Chúa Nhật III Phục Sinh - Năm C

"Chúa Giêsu đến, cầm bánh và cá trao cho họ ăn".


Dẫn vào Thánh Lễ


Anh chị em thân mến! Sau khi Phục Sinh, mặc dù Đức Giêsu đã hiện ra nhiều lần để chứng tỏ sự sống lại của Người, nhưng các Tông Đồ vẫn chưa vững niềm tin. Các ông tưởng mọi sự như đã chấm dứt với cái chết của Thầy mình, thế là họ trở về với nghề cũ, nghề đánh bắt cá. Các ông không còn nhớ tới lời mời gọi của Đức Giêsu thuở ban đầu : “Ta sẽ cho các ngươi trở thành ngư phủ lưới người”. Như thế, kế họach của Thiên Chúa nơi Đức Kitô xem ra như thất bại. Thế nhưng, với mẻ cá lạ hôm nay, Đấng Phục Sinh đã một lần nữa nhắc các Tông Đồ về nhiệm vụ: đánh lưới người về cho Thiên Chúa.

Tuy nhiên để chu toàn được nhiệm vụ này, trước hết các ông phải là những người luôn lắng nghe và sống lời Chúa, để rồi nhờ sức mạnh của lời Chúa nâng đỡ, các ông đủ can đảm lên đường dẫn đưa mọi người về với Đấng Phục Sinh.

Giờ đây chúng ta thành tâm xin lỗi Chúa và xin lỗi nhau, để cử hành Thánh Lễ cho xứng đáng.

Ca nhập lễ

Toàn thể đất nước hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy ca ngượi vinh quang danh Người, hãy kính dâng Người lời khen ngợi hiển vinh - Alleluia.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, Chúa đã làm cho tâm hồn chúng con tươi trẻ lại, và chan chứa niềm vui vì được làm con Chúa. Xin cho chúng con hằng giữ mãi niềm vui Chúa ban, và nắm chắc hy vọng được phục sinh vinh hiển. Chúng con cầu xin...

Bài Ðọc I: Cv 5, 27b-32. 40b-41

"Chúng tôi là chứng nhân các lời đó cùng với Thánh Thần".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, thầy thượng tế hỏi các tông đồ rằng: "Ta đã ra lệnh cấm các ngươi nhân danh ấy mà giảng dạy. Thế mà các ngươi đã giảng dạy giáo lý các ngươi khắp cả Giêrusalem; các ngươi còn muốn làm cho máu người đó lại đổ trên chúng tôi ư?" Phêrô và các tông đồ trả lời rằng: "Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta. Thiên Chúa cha ông chúng ta đã cho Ðức Giêsu sống lại, Ðấng mà các ông đã giết khi treo Người trên thập giá. Thiên Chúa đã dùng quyền năng tôn Ngài làm thủ lãnh và làm Ðấng Cứu Ðộ, để ban cho Israel được ăn năn sám hối và được ơn tha tội. Chúng tôi là nhân chứng các lời đó cùng với Thánh Thần, Ðấng mà Thiên Chúa đã ban cho mọi kẻ vâng lời Người!" Họ ra lệnh đánh đòn các tông đồ và tuyệt đối cấm không được nhân danh Ðức Giêsu mà giảng dạy nữa, đoạn tha các ngài về. Vậy các ngài ra khỏi công nghị, lòng hân hoan vì thấy mình xứng đáng chịu sỉ nhục vì Danh Ðức Giêsu.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 29, 2 và 4. 5 và 6. 11 và 12a và 13b

Ðáp: Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con (c. 2a).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con, và không để quân thù hoan hỉ về con. Lạy Chúa, Ngài đã đưa linh hồn con thoát xa Âm phủ, Ngài đã cứu con khỏi số người đang bước xuống mồ. 

Xướng: Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Chúa, và hãy cảm tạ thánh danh Ngài. Vì cơn giận của Ngài chỉ lâu trong giây phút, nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. Chiều hôm có gặp cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng vui hoan hỉ. 

Xướng: Lạy Chúa, xin nhậm lời và xót thương con, lạy Chúa, xin Ngài gia ân cứu giúp con. Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho con; lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng Chúa tới muôn đời. 

Bài Ðọc II: Kh 5, 11-14

"Chiên Con đã bị giết, xứng đáng lãnh nhận quyền năng, ...vinh quang và lời chúc tụng".

Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan.

Tôi là Gioan, đã thấy và nghe tiếng các thiên thần đông đảo vòng quanh ngai vàng, tiếng các sinh vật và các vị kỳ lão; số họ đông hằng ngàn hằng vạn, họ lớn tiếng tung hô rằng: "Chiên Con đã bị giết, xứng đáng lãnh nhận quyền năng, phú quý, khôn ngoan, sức mạnh, danh dự, vinh quang và lời chúc tụng". Tôi lại nghe mọi thọ tạo trên trời, trên đất, dưới đất, trên biển và dưới biển, tung hô rằng: "Chúc Ðấng ngự trên ngai và chúc Chiên Con được ca tụng, danh dự, vinh quang, quyền năng đến muôn đời". Bốn sinh vật thưa: "Amen", và hai mươi bốn vị kỳ lão sấp mặt xuống và thờ lạy Ðấng hằng sống muôn đời.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Ga 10, 27

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta". - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 21, 1-14 {hoặc 1-19}

"Chúa Giêsu đến, cầm bánh và cá trao cho họ ăn".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, lúc các môn đệ đang ở bờ biển Tibêria, Chúa Giêsu lại hiện đến. Công việc đã xảy ra như sau: "Simon-Phêrô, Tôma (cũng gọi là Ðiđymô), Nathanael quê tại Cana xứ Galilêa, các con ông Giêbêđê, và hai môn đệ khác nữa đang ở với nhau. Simon Phêrô bảo: "Tôi đi đánh cá đây". Các ông kia nói rằng: "Chúng tôi cùng đi với ông". Mọi người ra đi xuống thuyền. Nhưng đêm ấy các ông không bắt được con cá nào. Lúc rạng đông, Chúa Giêsu hiện đến trên bờ biển, nhưng các môn đệ không biết là Chúa Giêsu. Người liền hỏi: "Này các con, có gì ăn không?" Họ đồng thanh đáp: "Thưa không". Chúa Giêsu bảo: "Hãy thả lưới bên hữu thuyền thì sẽ được". Các ông liền thả lưới và hầu không kéo nổi lưới lên, vì đầy cá. Người môn đệ Chúa Giêsu yêu liền nói với Phêrô: "Chính Chúa đó". Simon Phêrô nghe nói là Chúa, liền khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào và kéo lưới đầy cá theo, vì không còn xa đất bao nhiêu, chỉ độ hai trăm thước tay.

Khi các ông lên bờ, thấy có sẵn lửa than, trên để cá và bánh. Chúa Giêsu bảo: "Các con hãy mang cá mới bắt được lại đây". Simon Phêrô xuống thuyền kéo lưới lên bờ. Lưới đầy toàn cá lớn; tất cả được một trăm năm mươi ba con. Dầu cá nhiều đến thế, nhưng lưới không rách. Chúa Giêsu bảo rằng: "Các con hãy lại ăn". Không ai trong đám ngồi ăn dám hỏi "Ông là ai?", vì mọi người đã biết là Chúa. Chúa Giêsu lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người cũng cho cá như thế. Ðây là lần thứ ba, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đệ khi Người từ cõi chết sống lại.

[Vậy khi các Ngài đã điểm tâm xong, Chúa Giêsu hỏi Simon Phêrô rằng: "Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy hơn những người này không?" Ông đáp: "Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy". Người bảo ông: "Con hãy chăn dắt các chiên con của Thầy". Người lại hỏi: "Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không?" Ông đáp: "Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy". Người bảo ông: "Con hãy chăn dắt các chiên con của Thầy". Người hỏi ông lần thứ ba: "Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không?" Phêrô buồn phiền, vì thấy Thầy hỏi lần thứ ba: "Con có yêu mến Thầy không?" Ông đáp: "Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự: Thầy biết con yêu mến Thầy". Người bảo ông: "Con hãy chăn dắt các chiên mẹ của Thầy. Thật, Thầy bảo thật cho con biết: khi con còn trẻ, con tự thắt lưng lấy và đi đâu mặc ý, nhưng khi con già, con sẽ giang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho con và dẫn con đến nơi con không muốn đến". Chúa nói thế có ý ám chỉ Phêrô sẽ chết cách nào để làm sáng danh Thiên Chúa. Phán những lời ấy đoạn, Người bảo ông: "Con hãy theo Thầy".]

Ðó là lời Chúa.

Lời nguyện tín hữu

Chủ tế: Anh chị em thân mến! Sau khi sống lại và lên trời, Chúa Giê-su đã được Chúa Cha tôn phong làm Vua vũ trụ và Chúa muôn loài: Ngài hằng điều khiển và yêu thương chăm sóc mọi loài. Với lòng tin tưởng đó, chúng ta phấn khởi dâng lời cầu xin:

1. “Chúng tôi là chứng nhân các điều đó cùng với Thánh Thần” - Xin cho các vị lãnh đạo Hội Thánh được lòng mến Chúa nhiều hơn, để có thể hoàn thành tác vụ “chăm sóc đoàn chiên Chúa” một cách tốt đẹp như lòng Chúa mong ước.

2. “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta” - Xin cho mọi thành phần dân Chúa, được can đảm thi hành mệnh lệnh truyền giáo của Chúa, để góp phần cứu độ anh chị em đồng loại, dù bị chèn ép, và phải đương đầu với nhiều thách đố gay gắt của thời đại này.

3. “Chiên Con đã bị giết, xứng đáng lãnh nhận quyền năng, thiên tính, khôn ngoan...”.- Xin cho những người nghèo khổ dù phải chịu gian nan thử thách trong cuộc đời, vẫn một lòng tín thác, thần phục và suy tôn Chúa Phục Sinh, với hy vọng sau này sẽ được thông phần vào cuộc chiến thắng vinh quang của Người.

4. “Nhưng đêm ấy các ông không bắt được con cá nào”.- Xin cho mọi người trong Giáo xứ chúng ta biết tín thác vào sự hiện diện và hoạt động hữu hiệu của Chúa Phục Sinh, để việc thánh hóa bản thân và sứ mệnh loan báo Tin Mừng của chúng ta đạt được kết quả tốt đẹp.

Chủ tế: Lạy Cha, Thiên Chúa tình yêu. Xin cho chúng con biết hết lòng suy tôn Con Cha, và làm chứng nhân cho Cha, bằng cách yêu thương, phục vụ hết mọi anh chị em đồng loại, đặc biệt là những người đau khổ và bé mọn chung quanh chúng con. Chúng con cầu xin...

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, Chúa đã ban cho Giáo Hội được niềm vui khôn tả; giờ đây xin vui lòng chấp nhận của lễ Giáo Hội đang hoan hỷ dâng lên và ban cho chúng con được hưởng nhờ hiệu quả là hạnh phúc muôn đời. Chúng con cầu xin...

Lời tiền tụng Phục Sinh

Ca hiệp lễ

Các môn đệ đã nhận ra Chúa Giêsu khi Người bẻ bánh - Alleluia.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, xin ghé mắt nhân từ nhìn đến chúng con là đoàn dân của Chúa. Nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, Chúa đã cho tâm hồn chúng con được hoàn toàn đổi mới, xin cho cả thân xác yếu hèn của chúng con đây mai sau cũng được sống lại vinh hiển và hưởng phúc trường sinh. Chúng con cầu xin...

Suy niệm

PHẢI VÂNG LỜI THIÊN CHÚA HƠN LÀ VÂNG LỜI NGƯỜI PHÀM
(Chúa Nhật III PS C) - Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột
 
Bị điệu ra giữa Thượng Hội Đồng, bị chất vấn rằng vì sao không chấp hành lệnh nghiêm cấm không được giảng dạy nhân danh Giêsu nữa, Phêrô và các Tông đồ đã khẳng khái trả lời: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm” (Cvtđ 5, 32). Câu trả lời thật tuyệt vời. Hầu như tất cả những ai đã tin vào Thiên Chúa đều phải “tâm phục, khẩu phục” trước câu nói này.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm sao để phân biệt đâu là lời của Thiên Chúa và đâu là lời của người phàm? Kitô hữu chúng ta vốn nhìn nhận tiếng Chúa phán qua thiên nhiên vũ trụ, qua các biến cố lịch sử, qua tiếng lương tâm. Nhưng cần thú nhận rằng các phương thức phán dạy ấy của Thiên Chúa dường như không minh nhiên rõ ràng với nhiều người. Chúng ta vốn tin nhận Lời Chúa qua Thánh Kinh, đặc biệt qua lời của Con Một Thiên Chúa nhập thể, Giêsu Kitô. Tuy nhiên cũng không dễ phân biệt đâu là cách thế trình bày của tác giả nhân loại và đâu là ý lời Thiên Chúa muốn truyền. Ngay đến các tông đồ là những người trực tiếp tai nghe lời Đấng Cứu Thế mà vẫn còn nhiều điều các ngài chưa thể hiểu (x.Ga 16, 12-13). Trong lịch sử đã không thiếu nhiều trường hợp lời của Thiên Chúa đã bị cắt xén hoặc bị đưa khỏi ngữ cảnh, để phục vụ cho ý, lời của phàm nhân. Ngoài ra còn cần phải kể đến nhiều lời giảng dạy của Đấng Cứu độ mà không được ghi chép trong Kinh Thánh (x.Ga 20, 30-31; 21,25). Đó là một trong những nội hàm mà Giáo hội Công giáo gọi là Thánh Truyền.

Căn cứ bài Tin Mừng thánh Gioan (Ga 21, 1-19) mà Giáo Hội cho trích đọc trong Chúa Nhật III mùa Phục Sinh năm C, xin cùng nghe và có đôi suy nghĩ về những lời từ miệng của Đấng Phục Sinh. Xin được ghép những lời của Chúa Kitô trong lần tỏ mình ra trên biển hồ Tibêria thành bốn cặp lời hữu quan, mang tính biện chứng như sau:

1. “Này các anh, có gì ăn không?” – “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá”.

Các anh có gì ăn không? Một lời cầu xin ư? Đúng vậy. Rất nhiều nhu cầu của tha nhân đang vọng vang bên tai chúng ta. Đó không chỉ là nhu cầu lương thực vật chất mà còn nhiều nhu cầu thiết yếu khác về tinh thần, tâm linh. Người ta không chỉ sống đúng nhân phẩm bằng cơm bánh mà còn bằng nhu cầu học hành, đi lại, nói năng, suy nghĩ, kết hội… Chắc hẳn thế nào các môn đệ cũng nhớ lại lời Thầy Chí Thánh trước đây: “Chính anh em hãy cho họ ăn” (Lc 9, 13). Có người thầm thỉ, nói đúng hơn là than thở: “Chúa ơi, Chúa dựng nên mọi sự đều tốt đẹp, thế mà sao còn quá nhiều người đói khổ như ở Sômali, ở Haiti… còn quá nhiều người bị áp bức, chịu cảnh bất công nơi này nơi kia trên thế giới và ngay cả chung quanh con?” Chắc hẳn Chúa sẽ trả lời rằng: “Con ơi, Ta đã làm rồi đó. Ta đã dựng nên con. Đó là điều rất tốt đẹp” (x.St 1, 31).

Chúng ta cũng đã từng phân trần: “Tài mọn, sức yếu như con làm sao kham nổi? Hoàn cảnh thế sự lại quá khó khăn, Chúa biết đấy “một con én không làm nên mùa xuân”. Thế nhưng Chúa vẫn cứ gợi ý, ra lệnh hay mời gọi: “Cứ thả lưới!” Các ngư phủ lành nghề ngày xưa đã làm điều nghịch thường: thả lưới giữa ban ngày! Trước đây trên dưới ba năm Simon đã được một mẻ cá lạ lùng chất đầy hai thuyền nặng gần chìm và hôm nay ngài cùng với các bạn lại được một mẻ cá không kém: 153 con cá lớn, nghĩa là bắt gần hết cá dưới biển vì theo quan niệm thời bấy giờ thì dưới biển chỉ có 153 loại cá. Ngạn ngữ Tây: “Les paresseurs sont ceux qui toujours veulent faire quelque chose” (Những người lười biếng là những người luôn muốn làm một sự gì đó). Xin đừng mộng mơ! Xin chớ ngồi mà ước muốn suông hoặc chỉ biết chấp tay cầu nguyện! Hãy thả lưới dù trời đã sáng, nghĩa là cả lúc thế thời xem ra không thuận lợi.

2. “Anh em hãy đến mà ăn!” – “Đem ít cá mới bắt được tới đây!”

“Hãy đến mà ăn!” Lời mời gọi của Chúa Cứu Thế nhắc nhớ chúng ta rằng mọi người đều cần đến lương thực bởi trời. Mọi hiện hữu ở đời đều do bởi Thiên Chúa. Không có ơn Chúa thì chúng ta không thể làm được sự gì tốt đẹp (x.Ga 15, 5). Đến với Chúa để kín múc nguồn sống, để nhận lấy năng lực yêu thương, phục vụ, trao ban. Đấng Cứu Độ không muốn chúng ta đến với Người với đôi bàn tay trắng. Dù có thể làm được mọi sự, nhưng Người cũng đã từng muốn cần đến năm chiếc bánh và hai con cá nhỏ (x.Mt 14, 17). Hằng ngày đến với Người qua bàn tiệc Lời Chúa, bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta đã mang gì để dâng cho Người?

3. “Con có yêu mến Thầy hơn những người này không?” – “Hãy chăn dắt chiên (chiên con và chiên mẹ) của Thầy!”

Vì yêu Chúa Kitô nên chúng ta sẵn sàng đảm nhận phần việc của Người. Nhờ yêu Chúa Kitô nên chúng ta mới có khả năng chăn dắt các chiên lớn bé của Người. Không ai dại dột giao trứng cho ác. Người ta chỉ ký thác người thân yêu cho kẻ đáng tin cậy. Và người đáng tin, đáng cậy nhất đó là người yêu mến mình hết sức, hết lòng. Biết chăn dắt đàn chiên với cả tấm lòng yêu mến thì mới xứng là mục tử. Không có tình yêu thì không thể chuyên chăm dẫn đàn chiên đến đồng cỏ xanh và dòng suối mát. Không có tình yêu thì không thế can đảm chống trả sói dữ và liều mạng sống vì đàn chiên. Không có tình yêu thì chẳng thể quan tâm chăm sóc chiên gầy, chiên bệnh tật hoặc vất vả đi tìm con lạc và cả những chiên đang ở ngoài đàn.

4. “Anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” – “Hãy theo Thầy!”

Dưới đóa hoa hồng thường lấp ló những cành gai. Thập giá là hệ quả như tất yếu của tình yêu. Đường tình yêu là đường thập giá. “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” (Lc 9, 23). Vấn đề đặt ra là bạn, tôi, chúng ta muốn theo ai? Đã quyết định theo Chúa Kitô thì không có con đường nào khác, ngoài con đường Người đã đi. Xin đừng quá chăm chú đến khúc gỗ sần sù. Đường Chúa đi là đường yêu thương. Khi đã lao mình vào biển tình yêu, hết lòng vì người mình yêu, hết tình vì người yêu mình, thì những khúc gỗ sần sù kia dù có ê vai nhưng rồi sẽ trở thành ách êm ái, gánh nhẹ nhàng. (x.Mt 11, 29-30)

Có ai yêu thương chúng ta như Đấng đã phó ban Người Con Một, vì hạnh phúc chúng ta? Có ai đầy quyền uy cao cả cho bằng Đấng đã dựng nên cả đất trời và đưa chúng ta từ chốn hư vô đến hiện hữu ở đời này? Vì thế, thái độ vừa chính đáng vừa khôn ngoan và phải đạo là: “Phải vâng lời Chúa hơn là vâng lời người ta.”

 

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột


BÀI SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH NĂM C của Lm Pet. Trần Bảo Ninh
 
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan. (Ga 21, 1-14) {hoặc 1-19}
 
Khi ấy, lúc các môn đệ đang ở bờ biển Tibêria, Chúa Giêsu lại hiện đến. Công việc đã xảy ra như sau: “Simon-Phêrô, Tôma (cũng gọi là Ðiđymô), Nathanael quê tại Cana xứ Galilêa, các con ông Giêbêđê, và hai môn đệ khác nữa đang ở với nhau. Simon Phêrô bảo: “Tôi đi đánh cá đây”. Các ông kia nói rằng: “Chúng tôi cùng đi với ông”. Mọi người ra đi xuống thuyền. Nhưng đêm ấy các ông không bắt được con cá nào. Lúc rạng đông, Chúa Giêsu hiện đến trên bờ biển, nhưng các môn đệ không biết là Chúa Giêsu. Người liền hỏi: “Này các con, có gì ăn không?” Họ đồng thanh đáp: “Thưa không”. Chúa Giêsu bảo: “Hãy thả lưới bên hữu thuyền thì sẽ được”. Các ông liền thả lưới và hầu không kéo nổi lưới lên, vì đầy cá. Người môn đệ Chúa Giêsu yêu liền nói với Phêrô: “Chính Chúa đó”. Simon Phêrô nghe nói là Chúa, liền khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào và kéo lưới đầy cá theo, vì không còn xa đất bao nhiêu, chỉ độ hai trăm thước tay.
 
Khi các ông lên bờ, thấy có sẵn lửa than, trên để cá và bánh. Chúa Giêsu bảo: “Các con hãy mang cá mới bắt được lại đây”. Simon Phêrô xuống thuyền kéo lưới lên bờ. Lưới đầy toàn cá lớn; tất cả được một trăm năm mươi ba con. Dầu cá nhiều đến thế, nhưng lưới không rách. Chúa Giêsu bảo rằng: “Các con hãy lại ăn”. Không ai trong đám ngồi ăn dám hỏi “Ông là ai?”, vì mọi người đã biết là Chúa. Chúa Giêsu lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người cũng cho cá như thế. Ðây là lần thứ ba, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đệ khi Người từ cõi chết sống lại.
 
[Vậy khi các Ngài đã điểm tâm xong, Chúa Giêsu hỏi Simon Phêrô rằng: “Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy hơn những người này không?” Ông đáp: “Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Người bảo ông: “Con hãy chăn dắt các chiên con của Thầy”. Người lại hỏi: “Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không?” Ông đáp: “Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Người bảo ông: “Con hãy chăn dắt các chiên con của Thầy”. Người hỏi ông lần thứ ba: “Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không?” Phêrô buồn phiền, vì thấy Thầy hỏi lần thứ ba: “Con có yêu mến Thầy không?” Ông đáp: “Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự: Thầy biết con yêu mến Thầy”. Người bảo ông: “Con hãy chăn dắt các chiên mẹ của Thầy. Thật, Thầy bảo thật cho con biết: khi con còn trẻ, con tự thắt lưng lấy và đi đâu mặc ý, nhưng khi con già, con sẽ giang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho con và dẫn con đến nơi con không muốn đến”. Chúa nói thế có ý ám chỉ Phêrô sẽ chết cách nào để làm sáng danh Thiên Chúa. Phán những lời ấy đoạn, Người bảo ông: “Con hãy theo Thầy”.]
 
Suy niệm

Mầu nhiệm phục sinh của Đức Giêsu Kitô đã giúp cho các môn đệ có một niềm tin thật chính thống và xác tín hơn mỗi ngày qua những lần hiện ra của Thầy chí thánh. Dù ban đầu các ông còn chìm ngập trong những hoài nghi, những hoang mang chen lẫn những sợ hãi, nhưng tất cả những âu lo đó, những trăn trở đó của các ông, Đức Giêsu phục sinh đã tiên liệu và đã hiện ra với họ trong những hoàn cảnh, những công việc và cả những lúc các ông như thấy cuộc đời tối sầm lại và tương lai chỉ còn là một ảo tưởng.

Khởi đi từ Bài đọc 1 trong sách Tông đồ Công vụ, tác giả thánh đã kể lại những sinh hoạt buổi ban đầu của cộng đoàn Giáo hội sơ khai, đại diện là các Tông đồ. Sự sợ hãi hầu như không còn và thay vào đó là lòng can đảm và mạnh dạn, các ông đã ra khỏi những giới hạn của con người, để trở thành một con người mới, một con người của Thần Khí, đến nỗi khi bị đe doạ, thánh Phêrô đã lên tiếng: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta. Thiên Chúa cha ông chúng ta đã cho Ðức Giêsu sống lại, Ðấng mà các ông đã giết khi treo Người trên thập giá. Thiên Chúa đã dùng quyền năng tôn Ngài làm thủ lãnh và làm Ðấng Cứu Ðộ, để ban cho Israel được ăn năn sám hối và được ơn tha tội. Chúng tôi là nhân chứng các lời đó cùng với Thánh Thần, Ðấng mà Thiên Chúa đã ban cho mọi kẻ vâng lời Người”. Chúa phục sinh đã biến đổi họ sau những lần hiện ra và cho các ông xem tay cùng cạnh sườn. Từ những dấu đinh, từ cạnh sườn bị đâm thâu, các ông nhận ra được Thầy mình, Đấng đã chịu treo trên thập giá với bản án bất công, nay đã và đang sống bên cạnh họ, chính Ngài đang từng ngày củng cố niềm tin và lòng mến cho họ, để họ trở thành những chứng nhân cho Tin Mừng phục sinh đến tận cùng trái đất. Lời mời gọi đó, được các môn đệ trân trọng và coi như một mệnh lệnh và rồi các ông đã lên đường.

Hình ảnh Chúa phục sinh cũng chỉ là một vị Thầy bình thường, dù đã chiến thắng sự chết như lời Thầy đã tiên báo, các ông chưa hình dung được vinh quang của Đấng phục sinh như thế nào và triều thiên của Đấng chiến thắng tội lỗi và sự chết sẽ được Thiên Chúa Cha trọng thưởng ra sao, tác giả sách Khải huyền kể lại cho chúng ta biết về dung mạo của Chiên Con sau khi đã trở thành hy tế trên đồi Can-vê: “Chiên Con đã bị giết, xứng đáng lãnh nhận quyền năng, phú quý, khôn ngoan, sức mạnh, danh dự, vinh quang và lời chúc tụng”. Đức Giêsu phục sinh đã được siêu tôn trên chín tầng trời như sự vâng phục và sống trách vụ của mình vẹn toàn trước mặt Chúa Cha, đến nỗi các thiên thần trên trời đã cất tiếng: “Chúc Ðấng ngự trên ngai và chúc Chiên Con được ca tụng, danh dự, vinh quang, quyền năng đến muôn đời”. Đó được coi là phần thưởng cho những ai sống trọn vẹn ơn gọi của mình trong hoàn cảnh hiện tại và là người đầy tớ trung tín và khôn ngoan trong gia đình chủ nhân ông.

Để có được những chứng nhân can đảm và sống động trong công cuộc loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu phục sinh đã chinh phục họ bằng niềm tin và sự can đảm, đã củng cố niềm tin đó bằng sự hiện diện gần gũi. Lúc các môn đệ hoang mang, Ngài hiện đến giữa các ông và ban bình an trời cao cho họ. Lúc họ chán nản, bỏ cộng đoàn, bỏ anh em trở về với sự cô đơn cuộc đời, Ngài hiện đến, giải thích Kinh thánh, bẻ bánh và trao ban. Những cử chỉ thân quen đó gợi lên hình ảnh người Thầy luôn yêu thương họ, chăm sóc và bảo vệ họ trong mọi hoàn cảnh. Và hôm nay, một lần nữa, Phêrô và anh em lại trở về với công ăn việc làm hàng ngày của họ để mưu sinh, nơi đó họ phải vất vả phơi mình giữa nắng, lặn lội trong đêm khuya để tìm cái ăn cái mặc cho gia đình và bản thân. Hình ảnh của Thầy nay đang phai dần sau biến cố tử nạn, và như là chấm dứt tất cả, chính lúc họ thấy rơi vào ngõ cụt, họ thấy ngày mai không còn chút hy vọng nào, Ngài hiện ra, ban bình an trời cao, củng cố niềm tin cho các môn đệ, hơn thế nữa, Ngài không ngồi đó để tận hưởng giây phút vinh quang của mình, Ngài đã đến với anh em trong mỗi công việc khác nhau, và họ đã nhận ra Thầy trong niềm vui vỡ oà. Anh em thức khuya đánh cá nhưng chẳng được con nào, thất vọng và chán nản xâm chiếm cõi lòng họ, Ngài đã củng cố, ban bình an và sai lên đường thả lưới. Nhận ra Thầy đang bên cạnh, các ông mừng lắm, dù trong niềm vui đó còn có chen chút hoài nghi, nhưng các dấu chỉ, những sự quan tâm và chăm sóc của Ngài, giúp họ tìm lại được chính mình. Có thể nói niềm tin của các Tông đồ đã được tinh luyện thành những bảo vật của Giáo hội.

Là một gia đình của Thiên Chúa trong lòng thế giới, Giáo hội vẫn luôn ý thức trách vụ của mình và luôn mời gọi con cái sống ơn gọi chứng nhân của Chúa phục sinh cách hoàn hảo hơn. Có những lúc trong đời sống ơn gọi của mỗi người, Chúa phục sinh hiện diện bên cạnh như là để được chăm sóc con người, nhưng con người khước từ, bởi sự hiện diện của Con Thiên Chúa chỉ làm một sự hiện diện đem lại nhiều phiền toái cho họ. Có những lúc tưởng chừng như niềm tin của con người đã mai một, đã chìm sâu trong bóng tối của mầu nhiệm thập giá, và không còn chút hy vọng và sáng láng của niềm vui phục sinh. Chính lúc đó, Chúa phục sinh sẽ xuất hiện để củng cố và đồng hành với con người, các môn đệ đã nhận ra Thầy mình, nhất là trong những sinh hoạt rất đời thường, còn chúng ta, trong cuộc đời, trong hoàn cảnh mỗi người và trong ơn gọi của cá nhân, chúng ta có thực sự tin nhận Chúa phục sinh đang ở đó với mỗi người và Ngài đang trao ban cho mỗi người tấm bánh tình thương, tấm bánh sự cảm thông và tấm bánh tình huynh đệ. Sự hiện diện của Chúa phục sinh luôn là sự hiện diện gần gũi, thân thương và đầy yêu mến, Ngài mong đợi các chứng nhân cũng hãy hoạ lại sự hiện diện đó của Ngài khi tân phúc âm hoá gia đình và xã hội.

Khi thấy niềm tin của các Tông đồ ngày một vững mạnh và đủ lớn, Ngài sai họ lên đường. Trước hết, Ngài trao cho Phêrô quyền đại diện anh em để chăm sóc gia đình của Thiên Chúa nơi trần gian. Phêrô đã nhận quyền bính đó sau khi đã được Chúa phục sinh kiểm chứng lại niềm tin và lòng mến. Niềm tin và lòng mến đó phải vượt trên tất cả những nấc thang giá trị của trần thế và vượt lên trên mọi giá trị của thế gian, dù đó là tình gia đình, tình bạn hữu hay tình vợ chồng. Khi đạt đến nấc thang giá trị thiêng liêng đó, thánh Phêrô đã trở thành người dẫn dắt đoàn chiên của Chúa phục sinh nơi trần gian, dẫn đoàn chiên đó tới đồng cỏ xanh và suối nước mát của ân sủng và bình an phục sinh.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Ngài đã chiến thắng tội lỗi và sự chết trong vinh quang phục sinh. Xin cho mỗi chúng con luôn cố gắng tái sinh trong nước và Thánh Thần, để được sống trong niềm vui và hy vọng của mầu nhiệm phục sinh. Sau khi phục sinh, Chúa đã đến với con người trong mọi hoàn cảnh cuộc sống và trong từng công việc, xin cho mỗi chúng con luôn tin nhận sự hiện diện của Ngài trong cuộc đời, để chúng con tự tin sống niềm tin và can đảm làm chứng cho mầu nhiệm phục sinh bằng cuộc đời của mình. Amen.  

 

Lm Pet. Trần Bảo Ninh

Mẻ lưới
Sưu tầm

Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, chúng ta nhận thấy câu chuyện đã xảy ra trên bờ hồ Tibêriade, xứ Galiêa, nơi các môn đệ đã quen thuộc với nghề đánh cá. Đây cũng là nơi các ông đã được Chúa báo trước rằng: Các ông sẽ gặp Ngài tại Galilêa.

Suốt đêm hôm ấy các ông đã vất vả và cực nhọc mà chẳng đánh bắt được gì. Sáng đến, theo sự chỉ dẫn của một người lạ mặt trên bờ hồ, các ông đã đánh được một mẻ cá lớn. Mẻ cá lạ lùng này đã giúp các ông nhận ra Chúa Giêsu, Thầy của các ông. Người nhận ra Chúa đầu tiên cũng chính là Gioan, vị môn đệ được Ngài yêu thương.

Theo nhiều nhà chú giải thì mẻ cá lạ lùng này chính là một hình ảnh tượng trưng cho Giáo Hội. Thực vậy, các môn đệ theo lời Chúa chỉ dạy đã hoạt động và ngay khi không có chút hy vọng gì thì cũng vẫn có thể quy tụ mọi người từ mọi nơi thành một cộng đoàn duy nhất, vì các ông đã làm theo lời Đấng đã sống lại. Con số 153 con cá được đưa ra ở đây cũng có thể góp phần làm nổi bật ý tưởng trên. Theo thánh Hiêrônimô thì các nhà động vật học hồi xưa phân biệt được 153 loại cá. Do đó con số này tượng trưng cho tất cả mọi thứ cá trong biển. Và như thế, dưới cái nhìn của các nhà chú giải thì mẻ lưới của các tông đồ sẽ quy tụ toàn thể gia đình nhân loại để làm thành một cộng đoàn duy nhất.

Tuy nhiên, trong thực tế, việc thi hành sứ mạng của Chúa Giêsu Phục sinh không phải lúc nào cũng dễ dàng ngay cả đối với các môn đệ. Bài đọc I, trích sách Tông đồ Công vụ đã nêu lên những khó khăn của việc rao giảng Tin Mừng. Các môn đệ đã bị cấm không được rao giảng danh Chúa Giêsu. Lệnh cấm ấy lại xuất phát từ thẩy cả thượng tế. Trong chính cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu, Ngài cũng đã từng gặp phải những khó khăn từ phía những người lãnh đạo Do Thái giáo. Và cuối cùng Ngài đã phải chết vì tay họ.

Từ những điều vừa trình bày chúng ta đi tới một kết luận thực hành. Kết luận ấy như thế này. Công việc rao giảng Tin Mừng Chúa Phục Sinh, không phải chỉ là một bổn phận dành riêng cho linh mục tu sĩ, mà còn là một bổn phận chung của mọi người tín hữu. Chu toàn được bổn phận ấy không phải là một việc dễ dàng, trái lại ở mọi nơi và trong mọi lúc, người tông đồ đều có thể gặp phải những khó khăn, những phản kháng.

Trong những hoàn cảnh như thế, nếu chỉ cậy dựa vào sức lực và tài năng riêng của mình, chúng ta sẽ dễ dàng nản chí và chắc chắn sẽ đi tới chỗ thất bại. Trái lại nếu biết cậy dựa vào tình thương và ơn sủng của Chúa, chúng ta sẽ luôn có được một lòng hăng hay và nhiệt thành để rồi sẽ đi tới thành công, bởi vì đối với Chúa, không có điều gì mà Ngài không thể làm được.

Noi gương các môn đệ, chúng ta hãy vâng theo lời Chúa, ra khơi và thả lưới, để nhờ đó chúng ta sẽ đem về cho Chúa những tâm hồn sám hối.

Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...