Chúa Nhật XXVIII Thường Niên - Năm C

"Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này".

 

Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến! Bài Tin Mừng hôm nay nói về mười người bệnh phong được chữa lành, mà chỉ có một người ngoại thuộc xứ Samaria đã tỏ lòng biết ơn đối với Thiên Chúa và đến với Đức Giêsu là người đã chữa anh khỏi bệnh. Biết ơn không chỉ là phép lịch sự trong việc giao tế giữa con người với nhau, nhưng còn là một thái độ của tinh thần trách nhiệm, một cử chỉ của lòng thương mến. Vị tướng Naaman trong bài đọc I không chỉ nói suông, nhưng còn tự nguyện dấn thân, thờ lạy và dâng lễ vật cho Thiên Chúa sau khi ông được người của Thiên Chúa hướng dẫn, chỉ bảo và ông đã dìm mình xuống dòng sông Giodan 7 lần và ông đã khỏi bệnh phong cùi.

Phụng vụ Chúa Nhật XXVIII thường niên, năm C đặc biệt là bài Tin Mừng theo thánh Luca nhắc nhở cho con người về lòng biết ơn: Chúa đề cao lòng biết ơn của người phong cùi xứ Samaria, ngoại giáo, được chữa lành và phê phán chín người đồng hương có đạo, cũng được Chúa chữa khỏi bệnh phong cùi, nhưng lại vô ơn bội nghĩa đối với tấm lòng bao la hải hà của Chúa Giêsu. Hôm nay, trong tâm tình của một người con thảo hiếu, chúng ta hãy xin lỗi Chúa và dâng lên Ngài muôn lời cảm tạ, muôn lời chúc tụng tôn vinh và hết lòng tôn thờ Ngài là Thượng Đế chí tôn.

Ca nhập lễ

Lạy Chúa, lạy Chúa, nếu Chúa nhớ hoài sự lỗi, nào ai chịu nổi được ư? Vì lạy Thiên Chúa Is-ra-el, Chúa thường rộng lượng thứ tha.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng ước gì ân sủng Chúa vừa mở đường cho chúng con đi, vừa đồng hành với chúng con luôn mãi, để chúng con sốt sắng thực hành những điều Chúa truyền dạy, Chúng con cầu xin...

Bài Ðọc I: 2 V 5, 14-17

"Naaman trở lại gặp người của Thiên Chúa và ông tuyên xưng Chúa".

Trích sách Các Vua quyển thứ hai.

Trong những ngày ấy, Naaman, quan lãnh binh của vua xứ Syria, xuống tắm bảy lần ở sông Giođan như lời tiên tri, người của Thiên Chúa dạy, da thịt ông lại trở nên tốt như da thịt của đứa trẻ, và ông được sạch.

Sau đó, ông và đoàn tuỳ tùng trở lại gặp người của Thiên Chúa. Ðến nơi, ông đứng trước mặt người của Thiên Chúa và nói: "Thật tôi biết không có Thiên Chúa nào khác trên hoàn vũ, ngoài một Thiên Chúa ở Israel. Vì thế, tôi xin ông nhận lấy phần phúc của tôi tớ ông".

Tiên tri trả lời rằng: "Có Chúa hằng sống, tôi đang đứng trước mặt Người: Thật tôi không dám nhận đâu". Naaman cố nài ép, nhưng tiên tri không nghe. Naaman nói thêm rằng: "Tuỳ ý ông, nhưng tôi xin ông ban phép cho tôi, là đầy tớ của ông, được chở một ít đất vừa sức hai con la chở được, vì từ nay ngoài Chúa, tôi tớ của ông sẽ chẳng dâng của lễ toàn thiêu hoặc hy lễ cho thần minh nào khác".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 97, 1. 2-3ab. 3cd-4

Ðáp: Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người trước mặt chư dân (c. 2b).

Xướng: Hãy ca tụng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. Tay hữu Người đã tạo cho Người cuộc chiến thắng, cùng với cánh tay thánh thiện của Người. 

Xướng: Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người; trước mặt chư dân Người tỏ rõ đức công minh. Người đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành để sủng ái nhà Israel. 

Xướng: Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Toàn thể địa cầu hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hỉ, mừng vui và đàn ca! 

Bài Ðọc II: 2 Tm 2, 8-13

"Nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Ðức Kitô".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi Timôthêu.

Con thân mến, con hãy nhớ rằng Chúa Giêsu Kitô bởi dòng dõi Ðavít, đã từ cõi chết sống lại, theo như Tin Mừng cha rao giảng. Vì Tin Mừng đó mà cha phải đau khổ đến phải chịu xiềng xích như một kẻ gian ác, nhưng lời của Thiên Chúa đâu có bị xiềng xích! Vì thế, cha cam chịu mọi sự vì những kẻ được tuyển chọn, để họ được hưởng ơn cứu độ cùng với vinh quang trên trời trong Ðức Giêsu Kitô.

Ðây cha nói thật: Nếu chúng ta cùng chết với Người, thì chúng ta cùng sống với Người. Nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Người. Nếu chúng ta chối bỏ Người, thì Người cũng sẽ chối bỏ chúng ta. Nếu chúng ta không tin Người, Người vẫn trung thành, vì Người không thể chối bỏ chính mình Người.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Lc 19, 38

Alleluia, alleluia! - Chúc tụng Ðức Vua, Ðấng nhân danh Chúa mà đến! Bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời! - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 17, 11-19

"Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, Người đi qua biên giới Samaria và Galilêa. Khi Người vào một làng kia, thì gặp mười người phong cùi đang đứng ở đàng xa, họ cất tiếng thưa rằng: "Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi". Thấy họ, Người bảo họ rằng: "Các ngươi hãy đi trình diện với các tư tế". Trong lúc họ đi đường, họ được lành sạch. Một người trong bọn họ thấy mình được lành sạch, liền quay trở lại, lớn tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rồi đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và tạ ơn Người, mà người ấy lại là người xứ Samaria.

Nhưng Chúa Giêsu phán rằng: "Chớ thì không phải cả mười người được lành sạch sao? Còn chín người kia đâu? Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này". Rồi Người bảo kẻ ấy rằng: "Ngươi hãy đứng dậy mà về: vì lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi".

Ðó là lời Chúa.

Lời nguyện tín hữu

Chủ tế: Anh chị em thân mến! Một lần cảm ơn là một lần đón nhận ơn mới, chúng ta hãy nhìn lại những hồng ơn Chúa đổ chan hòa trên chúng ta, để biết đền đáp ơn Chúa bằng lời cầu nguyện tha thiết:

1. “Naaman trở lại gặp người của Thiên Chúa và ông tuyên xưng Chúa” - Xin cho các vị Chủ chăn được lòng thương xót của Chúa, để các ngài sẵn sàng là những trung gian đích thực, thông chuyển tình thương và ân sủng Chúa cho những ai đến với các ngài.

2. “Nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Đức Kitô” - Xin cho các tín hữu luôn ý thức giá trị cao quí của Bí Tích Thánh Tẩy, là cho họ sạch tội, trở nên con Thiên Chúa, được thông phần sự sống của Thiên Chúa và hiệp nhất với Ngài.

3. “Khi Người vào một làng kia, thì gặp mười phong cùi” - Xin cho những nạn nhân phong cùi trên khắp thế giới, đang bị người đời xa lánh, xã hội bỏ rơi, được Thiên Chúa xót thương và thúc đẩy nhiều tâm hồn quảng đại giúp họ sống những ngày đau bệnh, trong sự an vui của con cái Chúa.

4. “Chớ thì không phải cả mười được lành sạch sao?” - Xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta biết biểu lộ lòng tri ân, bằng việc trao tặng cho tha nhân những gì đã nhận lãnh một cách nhưng không, hầu ơn Chúa không thành vô ích cho chúng ta, và cho mọi người.

Chủ tế: Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sống tâm tình tri ân bằng việc xa tránh tội lỗi, và gắn bó tích cực hơn với Chúa qua việc siêng năng lãnh Bí Tích Hòa Giải và Bí tích Thánh Thể, Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, xin chấp nhận những lời cầu xin và lễ vật chúng con dâng tiến, để làm cho thánh lễ chúng con đang sốt sắng cử hành mở đường dẫn chúng con tới quê trời vinh hiển. Chúng con cầu xin...

Ca hiệp lễ

Bọn giàu sang đã sa cơ nghèo đói; nhưng người tìm Chúa chẳng thiếu chi thiện hảo.

Hoặc đọc:

Khi Chúa tỏ mình ra, thì chúng ta sẽ giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy như vậy.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng cao cả. Chúa đã lấy Mình và Máu Ðức Kitô làm của ăn nuôi dưỡng chúng con; chúng con nài xin Chúa cho chúng con được chia sẻ chức vị làm con Chúa với Người, Người hằng sống và hiển trị muôn đời...

Suy niệm

Suy niệm Chúa nhật 28 Thường niên – C
Lm Pet. Trần Bảo Ninh
 
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 17, 11-19)
 
Khi Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, Người đi qua biên giới Samaria và Galilêa. Khi Người vào một làng kia, thì gặp mười người phong cùi đang đứng ở đàng xa, họ cất tiếng thưa rằng: "Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi". Thấy họ, Người bảo họ rằng: "Các ngươi hãy đi trình diện với các tư tế". Trong lúc họ đi đường, họ được lành sạch. Một người trong bọn họ thấy mình được lành sạch, liền quay trở lại, lớn tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rồi đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và tạ ơn Người, mà người ấy lại là người xứ Samaria.
 
Nhưng Chúa Giêsu phán rằng: "Chớ thì không phải cả mười người được lành sạch sao? Còn chín người kia đâu? Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này". Rồi Người bảo kẻ ấy rằng: "Ngươi hãy đứng dậy mà về: vì lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi".
 
Suy niệm
Mỗi lần nghe lại bài Tin Mừng nói về mười người phung hủi, được Đức Giêsu chữa lành, đưa trở lại cộng đoàn, hạnh phúc quá, vậy mà, trong số đó chỉ có một người quay trở lại lớn tiếng tung hô Thiên Chúa và quỳ xuống cám ơn Đức Giêsu. Chúng ta như được mời hâm nóng tâm tình tạ ơn của chính mình dành cho Thiên Chúa, Đấng đã cho chúng ta hiện hữu, làm người, làm con Thiên Chúa và hơn nữa, đã cứu độ chúng ta qua chính người Con duy nhất của Thiên Chúa. Bên cạnh đó cũng phần nào thấy sự thiếu sót của bản thân, lắm lúc vô tình hay hữu ý, quên mất sự quan tâm của Thiên Chúa dành cho mỗi người, để tri ân, để cảm tạ và để chúc tụng.
 
Câu chuyện về Naaman được sách các Vua kể lại cho chúng ta chút suy nghĩ về hành trình làm người và làm con Thiên Chúa của mỗi người. Sau khi được chữa lành khỏi căn bệnh quái ác, Naaman đã quay trở lại để cùng với tuỳ tùng, tri ân Giavê Thiên Chúa của người Do-thái, dù rằng trước đó, ông không tin và không chấp nhận xuống sông để tắm rửa theo lời của Người Thiên Chúa đề nghị. “Trong những ngày ấy, Naaman, quan lãnh binh của vua xứ Syria, xuống tắm bảy lần ở sông Giođan như lời tiên tri, người của Thiên Chúa dạy, da thịt ông lại trở nên tốt như da thịt của đứa trẻ, và ông được sạch”. Thái độ coi thường lời khuyên của Người Thiên Chúa đã làm cho ông trăn trở trong nỗi dày vò của bệnh tật. Khi nhận ra sự hữu hạn của con người, ông mạnh dạn bước xuống dòng sông Giodan tắm 7 lần và thấy mình được sạch. Bước chân trở lại tri ân Giavê là những bước chân của người khiêm tốn nhận ra những ơn lành Giavê đã tuôn đổ trên cuộc đời. Tâm tình khiêm tốn luôn làm cho đức tin ngày càng trưởng thành và xác tín hơn nơi mỗi người.
 
Một lần nữa, chúng ta như người học trò của thánh Tông Đồ dân ngoại, đang nghe những lời khuyên bảo, để mỗi người từng ngày thay đổi ý thức sống, thái độ sống và niềm tin của mình, từ đó, tương quan giữa bản thân với Đức Kitô phục sinh ngày càng hoàn thiện và vẹn toàn hơn. “Nếu chúng ta cùng chết với Người, thì chúng ta cùng sống với Người. Nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Người. Nếu chúng ta chối bỏ Người, thì Người cũng sẽ chối bỏ chúng ta. Nếu chúng ta không tin Người, Người vẫn trung thành, vì Người không thể chối bỏ chính mình Người”. Thánh Timothe là người học trò thân thiết của thánh nhân, Ngài khuyên bảo người học trò mỗi ngày hãy nên một với vị Thầy Chí Thánh là Đức Kitô, ngay cả trong mầu nhiệm tử nạn, để từ đây, ai gắn bó với Đức Kitô, sẽ được tái sinh, trở nên một người mới trong mầu nhiệm phục sinh của Thầy Chí Thánh. Đó cũng là một tâm tình tạ ơn, trao về cho Thầy khi được cùng Thầy sống tâm tình con cái Thiên Chúa vẹn toàn. Lời khuyên bảo đó đang được trao gởi cho mỗi người chúng ta, để trong dòng suy nghĩ, trong công ăn việc làm, trong đời sống chứng nhân, mỗi Kitô hữu sẽ là một chứng nhân cho mầu nhiệm phục sinh của Thầy Chí Thánh.
 
Hình ảnh người thanh niên bệnh tật quay trở lại lớn tiếng tung hô Thiên Chúa và quỳ xuống tạ ơn Đức Giêsu quả là một hình ảnh rất xúc động. Tin Mừng kể lại cho chúng ta biết, anh ta là một người dân ngoại, bị phung hủi, sống với anh em người Do-thái. “Một người trong bọn họ thấy mình được lành sạch, liền quay trở lại, lớn tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rồi đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và tạ ơn Người, mà người ấy lại là người xứ Samaria”. Những người phung hủi thường bị tách khỏi cộng đoàn, sống trong sa mạc, hang động hay trong những túp lều tạm bợ, họ bị coi là ô uế, bị chia cắt khỏi mọi sinh hoạt của cộng đoàn, về mặt tinh thần, họ coi như đã chết, không còn là thành viên trong cộng đoàn. Nỗi đau của một con người đó là đang sống nhưng bị anh em coi như đã chết, bị khinh bỉ, bị loại trừ, bị xa lánh. Hôm nay, gặp Đức Giêsu, anh ta cùng với những người bên cạnh được chữa lành, được cứu sống, chắc không còn niềm vui và hạnh phúc nào lớn cho bằng được cứu sống, được đón nhận, được trân trọng và được trở về gia đình, cộng đoàn và bạn hữu. Nhận ra được sự quan tâm và tình thương đến từ Thiên Chúa, anh ta đã quay trở lại lớn tiếng tung hô Thiên Chúa và sấp mình tạ ơn Đức Giêsu. Có thể nói rằng, khi con người bất lực, mọi cánh cửa đều đóng lại với một ai đó, cuộc đời coi như đã khép lại, thì lúc đó, Thiên Chúa đã thi thố tình yêu của Ngài. Tình yêu đó đến với mỗi người qua sự hiện diện của Đức Giêsu, hay nói cách khác, sự hiện diện của Đức Giêsu như là nhịp cầu, là chiếc máng, như là cánh cửa mở ra cho con người, để tất cả được yêu thương, được tôn trọng, được nhìn nhận và được chăm sóc như nhau. Có thể nói, người thanh niên này đã nhận ra được sức mạnh của tình yêu qua biến cố được chữa lành. Đời sống thể lý của anh được hồi sinh, giá trị con người được phục hồi, đời sống tinh thần được nhìn nhận và hơn nữa, từ nay anh trở thành con cái của Thiên Chúa khi cúi đầu tạ ơn Ngài. Tạ ơn là nhìn nhận mình được nhận ơn, tạ ơn ai là nhìn nhận mình nhận được từ người đó muôn ân phúc. Anh ta đã tôn vinh Thiên Chúa và tạ ơn Đức Giêsu, là lúc anh ta tôn vinh Thiên Chúa là chủ tể cuộc đời của anh, và Đức Giêsu là Đấng đã đem đến cho anh sự sống cả về thể lý lẫn tinh thần. Một niềm vui lớn lao nhất trong cuộc đời của anh ta.
 
Mỗi ngày, chúng ta đón nhận biết bao nhiêu ân phúc của Thiên Chúa, từ hơi thở, nhịp sống, từ mọi phương tiện của cuộc sống cho đến đích điểm cuộc đời là Nước Trời, từ niềm tin đơn sơ được gieo vào tâm hồn lúc bắt đầu hiện hữu, cho đến một đức tin tinh tuyền khi trưởng thành, tất cả đều là những món quà Thiên Chúa trao tặng, thế nhưng, có bao giờ chúng ta cố gắng dừng lại bên lề cuộc sống, để tạ ơn Ngài, để đáp đền những ân phúc đó trong tâm tình tung hô và tri ân. Lắm lúc chúng ta thầm nghĩ rằng con người có thể tự định đoạt cuộc đời, tự giải quyết tất cả những câu chuyện, những biến cố trong kiếp người, kể cả bệnh tật, thậm chí sự sống của mỗi người. Cho dù khoa học có tiến bộ, mọi khía cạnh cuộc sống có đáp ứng những nhu cầu của con người, thì cũng không thể giúp trả lời câu hỏi cuối cùng của kiếp người là tôi sinh ra để làm gì? Sau khi chết, tôi sẽ đi về đâu? Tất cả nếu không dựa vào giáo lý của Thiên Chúa qua Mẹ Giáo hội, con người sẽ đi vào ngõ cụt, nhưng mầu nhiệm nhập thể của Con Thiên Chúa đã phần nào trả lời cho con người nhiều câu hỏi về kiếp nhân sinh của phận người.
 
Trong ơn gọi gia đình hay tu trì, lắm lúc con người vẫn cho rằng tất cả những thành công, những hoa trái cuộc sống có được đều đến từ sức lao động và khả năng tài lực của con người. Niềm tin chỉ được hâm nóng khi con người mang trên thân thể những căn bệnh thế kỷ, và chỉ khi đó, con người mới thấy mình tuỳ thuộc tất cả vào Thiên Chúa, vào Thượng Đế. Nếu như mỗi ngày sống, nếu như trong từng biến cố hay qua mỗi câu chuyện cuộc đời, con người biết sống tâm tình của người phong cùi trong bài Tin Mừng, chắc cuộc đời sẽ vơi đi những nỗi buồn hay sự đơn độc, bởi niềm tin giúp con người gắn bó với Thiên Chúa mọi lúc, mọi nơi và trong mọi biến cố cuộc đời.
 
Thế nhưng, với chủ thuyết tương đối, với chủ nghĩa thực dụng đang nổi lên như một lý tưởng sống của bao người, thì niềm tin bị xếp vào loại xa xỉ, mê tín và không cần thiết, con người có thể tự giải quyết được tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống cũng như trong mọi khía cạnh khác. Họ sẵn sàng loại trừ Thiên Chúa, loại trừ Thượng Đế ra khỏi cuộc sống con người, và muốn mời Ngài ra khỏi thế giới này, để con người được tự do và quyết định tất cả. Vậy có phải đã đến lúc con người muốn làm chủ vận mệnh cuộc sống, vận mệnh thế giới và cả vận mệnh vũ trụ này chăng, thậm chí con người còn muốn tạo ra một Thiên Chúa để đáp ứng mọi nhu cầu, mọi yêu sách và thậm chí mọi phương tiện để phục vụ cuộc sống của con người sao? Bởi vậy mà tâm tình tạ ơn của con người hôm nay như đang bị lãng quên, bị loại khỏi cuộc sống và biến mất trong ý thức của mỗi người khi nhận được những niềm vui, những món quà và những giá trị thánh thiêng cho cuộc đời mỗi người sao?
 
Lạy Chúa, con người được tạo dựng trong tình thương của Chúa, thế nhưng, họ luôn nghĩ rằng, con người được tạo dựng để hưởng thụ, để trải nghiệm cuộc sống, xin tha thứ cho những suy nghĩ nông cạn của con người trong đó có chúng con, những người Kitô hữu, để chúng con luôn xác tín niềm tin của mình vào một Thiên Chúa tình yêu. Ngài đã tôn trọng tự do của con người, ngay cả trong công trình cứu độ con người, xin cho mỗi người chúng con luôn biết trân trọng sự tự do của bản thân mà Thiên Chúa dành cho, để sống tử tế hơn với Thiên Chúa, với tha nhân. Amen.
 

Lm Pet. Trần Bảo Ninh


LỜI TẠ ƠN HIẾM HOI
(Chúa Nhật XXVIII TN C) - Lm.Giuse Nguyễn Văn Nghĩa –  Ban Mê Thuột
 
Chuyện bình thường của kiếp nhân sinh: người ta thường nhớ hoặc nói thẳng thừng là khó quên người mà mình đã thi ân cho hơn là người đã thi ân cho mình. Quả thật chúng ta khó quên những người đang mắc nợ chúng ta, nhưng lại ít nhớ nhưng người mà chúng ta đang mắc nợ họ. Xem ra cái được gọi là lòng biết ơn không phải dễ mà có được nếu không ý thức và chuyên cần luyện tập. Cùng với phần Phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XXVIII TN C, đặc biệt bài đọc thứ nhất và bài Tin Mừng chúng ta cùng xét xem đôi điều về chủ đề lòng biết ơn.

Một Naaman người Syria được nói đến trong sách Các Vua và một người anh em Samaria trong câu chuyện Tin Mừng Luca kể đã sống có lòng biết ơn khiến chúng ta giật mình tự hỏi: Phải chăng anh em lương dân (có thể kể đến bà con khác đạo nữa) lại nhạy bén với sự biết ơn hơn là con cái Chúa? Thật khó trả lời cho câu hỏi đầy sự tế nhị này, tuy nhiên chúng ta có thể nhận ra một vài nguyên nhân gây nên tình trạng vong ân đáng buồn đang hiện hữu đó đây để rồi tìm cách khắc phục.

1. Ảo tưởng về công lao hay công trạng của mình: Một khi nghĩ rằng những ơn mình lãnh nhận là do công sức mình đã bỏ ra thì người ta khó mà nhận ra cội nguồn của ơn lành. Phải chăng chín người Israel phung hủi được chữa lành hôm ấy nghĩ rằng chính nhờ việc giữ luật “đi trình diện các Tư tế” mà họ được lành sạch? Cũng có thể lắm. Vì đây là điều mà viên tướng Naaman và người anh em lương dân phung hủi trong câu chuyện Tin Mừng kể hầu chắc là không biết.

2. Nhận được ơn lành nhiều lần: Sự gì mà lặp đi lặp nhiều lần quá cũng dễ bị xem là chuyện bình thường. Ở vùng nhiệt đới, có thể nói rằng ngày nào mặt trời cũng mọc lên và lặn xuống thì ít có người cảm thấy quý và từ đó nảy sinh tâm tình biết ơn “trời đất”. Trái lại, ở những vùng ôn đới, sau một quảng thời gian giá lạnh, tuyết rơi, bỗng một ngày mặt trời xuất hiện thì người người ùa ra hưởng ánh nắng cách hồ hởi sung sướng và thế nào cũng có nhiều người biết tạ ơn “đất trời” cách nào đó. Ngày 25 tháng 12 có nguồn gốc từ đây và giáo hội đã chọn ngày ấy để kính Sinh Nhật Đấng Cứu Thế vì Người được tôn xưng là Mặt Trời Công Chính. Từ dữ kiện này chúng ta suy xét về tâm tình của các tín hữu trong Giáo hội Công giáo. Tại những nơi có sinh hoạt tôn giáo bình thường, kiểu sáng lễ, chiều kinh thì hình như người ta ít tỏ lòng biết ơn các thừa tác viên. Trái lại, ở những nơi xa xôi hẻo lánh, dăm bảy tháng mới có một Thánh lễ thì người ta không chỉ tạ ơn Chúa mà còn tỏ lòng biết ơn linh mục dâng Lễ cách rất nồng hậu.

3. Nhận được những ơn lành mà nhiều người khác cũng được hưởng như mình: Nếu giả như chỉ riêng mình tôi được hít thở khí trời thì chắc chắn tôi sẽ ý thức đó là một ơn lành và rồi biết tỏ lòng tri ân. Thử nhẩm xem có được bao nhiêu người biết tạ ơn Chúa vì được sống qua một ngày? Ngược lại khi chúng ta được chữa lành một bệnh nan y nào đó cách tỏ tường và lạ thường thì dường như không thể không tạ ơn cách này hay cách khác.

Đã xét các nguyên nhân về phía người thụ ân, giờ xin mạo muội nhìn đến phía Đấng ban phát ơn lành. Phải chăng cái thói xấu “vô ơn” của chúng ta cũng có nguyên cớ từ nơi Chúa? Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương và ơn lành Người tuôn đổ xuống trên nhân loại chúng ta quá vô biên và hầu như không ngơi nghỉ. Không dám to gan xin Chúa thỉnh thoảng cho trời tối ba ngày ba đêm hay cho bầu khí quyển cô lại vài ba tiếng đồng hồ. Chỉ mong sao chúng ta nhận ra ân tình vô giá trong những biến chuyển bình thường của vũ trụ thiên nhiên và ngay trong những chuyện của đời thường kiếp người.

Một lẽ nữa cần xét đến đó là Thiên Chúa thường giáng phúc thi ân qua các trung gian. Ngoài tấm linh hồn mỗi người là do Thiên Chúa tạo dựng và phú ban trực tiếp cho từng người, thì có thể nói rằng hầu hết mọi sự Thiên Chúa ban cho chúng ta đều qua những trung gian. Đó là những con người, là những loài vật, là các điều kiện thiên nhiên hay xã hội… Những người trung gian gần đó là mẹ cha, ông bà, thầy cô… Và còn có biết bao trung gian xa mà lắm khi chúng ta chưa hề nghĩ tới. Các trung gian đóng vai trò làm cầu nối chuyển thông ơn lành nhưng chính những trung gian ấy nhiều khi lại làm cản trở cho lòng tri ân của chúng ta đến với nguồn của ơn lành.

Đã là người thì chẳng có ai muốn mang tiếng vong ân bạc nghĩa. Xưa lẫn nay và bất cứ xã hội nào, người ta đều lên án kẻ vong ân, “ăn cháo đái bát”. Một vài phân tích để nhận diện rõ các nguyên cớ của sự vong ân quả là cần thiết để chúng ta phần nào tránh được sự bạc nghĩa vong ân đáng trách. Hơn nữa thực tế minh chứng rằng người vong ân thường sử dụng ân ban ít hiệu quả mà nhiều khi lại còn rất lãng phí. Như thế càng tránh sự vong ân thì chúng ta càng biết sử dụng ân ban hữu hiệu, và càng đúng với ý của người thi ân. Và chắc chắn khi đã sử dụng ân ban đúng với ý người thi ân thì đó là một cách thể tỏ lòng biết ơn tuyệt vời hơn cả.

Cử hành Bí tích Thánh Thể là hiện tại Hy Tế Thập Giá của Chúa Kitô. Bí tích Thánh Thể còn được gọi là Hy Tế tạ ơn, vì chính trên thập giá là lúc Chúa Kitô sử dụng ơn Chúa Cha ban là thân xác, là sự sống của Người cách đẹp lòng Chúa Cha nhất: đó là dùng chính tấm thân Chúa Cha trao ban để sống đức vâng phục, để mạc khải cho nhân loại thấy chân dung Thiên Chúa Tình Yêu và để cứu sống nhân loại, đưa nhân loại về với phận làm con, được giao hoà với Cha trên trời.

Chúng ta cần phải biết ơn những ai và về những điều gì? Cũng nên tự hỏi xem tôi đã và đang nhận lãnh những ơn lành cao quý nào đây? Ai đã ban ơn ấy cho tôi và người ban ơn muốn tôi sử dụng các ơn lành ấy như thế nào và vào mục đích gì? Thiết nghĩ rằng khi trả lời được những câu hỏi trên thì chúng ta sẽ tránh được phần nào sự vong ân dù hữu ý hay vô tình nhưng vẫn đáng trách và đáng ghét.

 

Lm.Giuse Nguyễn Văn Nghĩa –  Ban Mê Thuột

 

Biết ơn
Sưu tầm

Trong cuốn "Nói với chính mình" Đức Cha Bùi Tuần có viết: Tôi rất thích chó vì chó biết ơn. Dầu chỉ nhận được một cục xương, chó cũng tỏ vẻ biết ơn. Chủ đi đâu về, chó cũng vẫy đuôi mừng rỡ. Trong khi đó, con người vô ơn lại là chuyện bình thường.

Một sự kiện khác cũng khiến chúng ta phải ngạc nhiên không ít: một số người Việt Nam từ hải ngoại trở về thăm quê hương đã đưa ra nhận xét như sau: Dầu cố gắng che giấu đến đâu cái tông tích Việt kiều của mình, thì cái tông tích ấy vẫn cứ bị lộ ra. Và oái oăm thay, cái tông tích ấy được thể hiện không phải qua cách mua sắm tiêu xài hay qua cách phục sức, mà gắn liền với một chi tiết rất tầm thường. Người ta nhận ra họ bởi vì họ là những người luôn miệng nói lên hai tiếng "cám ơn". Nếu quả thực hai tiếng cám ơn đã trở thành quý hiếm trên môi miệng người Việt Nam hiện nay, thì điều này hẳn phải là một báo động đáng lo ngại. Đó có thể là dấu hiệu của sự khô cạn tình người trong xã hội chúng ta đang sống.

Thực vậy, khi ơn nghĩa đã bị chối bỏ, thì dĩ nhiên sự ràng buộc và tình liên đới cũng trở thành mong manh. Một khi tình người bị chối bỏ, thì tất nhiên niềm tin tôn giáo cũng sẽ chỉ là chuyện thừa thãi mà thôi.

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta đào sâu ý nghĩa của lòng biết ơn trong cuộc sống con người. Trong số mười người được chữa lành, thì chỉ có một người quay lại ngợi khen Thiên Chúa, rồi đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu mà tạ ơn Ngài. Chúa Giêsu hẳn đã chua xót trước sự vô ơn của con người khi thốt lên: Chớ thì không phải cả mười người được lành sạch sao? Còn chín người kia đâu sao không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa mà chỉ có người ngoại này mà thôi. Tỷ lệ quá thấp, chỉ có một phần mười. Và một phần mười ấy theo Chúa Giêsu nhận xét lại là thành phần ngoại giáo. Mặc dù là goại giáo theo nghĩa tôn giáo, nhưng lại rất có đạo theo nghĩa đạo làm người. Mà bởi đạo làm người cũng là thể hiện của đạo Chúa, cho nên người ngoại giáo Samaria này, theo cái nhìn của Chúa Giêsu, hẳn phải là người có đạo hơn chín người Do Thái kia, bởi vì người này đã thực thi cái nhân đức cao quý nhất của con người là lòng biết ơn.

Con người không thể là người một cách sung mãn mà không cần đến người khác. Nói lên hai tiếng cám ơn là nói lên tình liên đới thâm sâu giữa người với người. Tôi không thể là tôi nếu không có người khác. Tôi cần có người khác để sống hoàn thiện, để được hạnh phúc. Từ cha mẹ tôi, gia đình tôi, những người thân thích của tôi cho đến cả những kẻ thù của tôi... Tất cả đều đã đóng góp vào sự trưởng thành của tôi. Không ai nghèo đến độ không có gì để trao tặng. Cuộc đời là một chuỗi những lãnh nhận, từ sự sống cho đến những thành đạt. Không có gì chúng ta đang có mà không do lãnh nhận từ người khác. Do đó biết ơn là một đòi hỏi thiết yếu nhất của trái tim con người. Không có lời rủa sả nào thậm tệ bằng ba tiếng: Đồ vô ơn. Hơn nữa, lòng biết ơn còn là con đường dẫn chúng ta đến gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn mọi ơn huệ.

Người Samaria được chữa lành, đã ngợi khen Thiên Chúa và sấp mình dưới chân Chúa Giêsu mà tạ ơn Ngài. Như vậy, lòng biết ơn chính là nẻo đường dẫn anh đến gặp gỡ với Thiên Chúa. Sống cho ra người, sống cho có tình nghĩa, đó là con đường bảo đảm nhất dẫn chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Vô thần, xét cho cùng, cũng chỉ là vô ơn, bởi vì kẻ chối bỏ Thiên Chúa thì dĩ nhiên cũng sẽ chối bỏ người đồng loại của mình.

Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...