Chúa nhật XXXII Thường Niên - Năm C

"Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống".

 

Nghe MP3:  

Ca nhập lễ

Xin cho lời tôi khẩn nguyện thấu đến tai Chúa; lạy Chúa, xin Chúa lắng tai nghe tiếng tôi kêu cầu.

Dẫn nhập Thánh lễ

Anh chị em thân mến! Đời người vắn vỏi, xác người yếu đuối. Chỉ trong vòng một trăm năm tất cả chúng ta, những người đang hiện diện nơi đây sẽ chết và trở thành tro bụi. Nghĩ như thế thì đời người thật phi lý và vô nghĩa; nhưng trong niềm tin Kitô giáo, chúng ta còn có đời sau. Chúng ta tin rằng thân xác chúng ta sẽ được sống lại, được thưởng sống hạnh phúc vĩnh cửu trên Thiên Đàng, hay bị phạt trầm luân muôn đời trong lửa hỏa ngục. Việc đó lệ thuộc vào cách sống của chúng ta hôm nay.

Nghĩ đến cái chết ai cũng cảm thấy lo lắng và sợ hãi. Lo lắng là tất nhiên, sợ hãi là hợp lý vì con người mang thân phận tội lỗi, vì đứng trước tòa phán xét của Chúa nào có ai vô tội. Vì vậy, trong thánh lễ hôm nay, mỗi người chúng ta nên nhìn lại cuộc sống của chính mình, để trong niềm tin vào Chúa Phục Sinh, khi đến trước tòa phán xét, chúng ta không còn lo âu sợ hãi nữa.

Chúng ta tin rằng những cố gắng sống tốt đẹp của chúng ta ở đời này nhờ ơn Chúa trợ giúp, nhờ lòng Chúa xót thương, chúng ta sẽ được ân thưởng hạnh phúc trường sinh. Chúng ta hãy thành tâm thống hối để xứng đáng cử hành Mầu Nhiệm Thánh

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, xin đẩy xa những gì cản bước tiến chúng con, trên đường về với Chúa, để một khi xác hồn thanh thản, chúng con được hoàn toàn tự do thực hiện ý Chúa. Chúng con cầu xin...

Bài Ðọc I: 2 Mcb 7, 1-2. 9-14

"Vua vũ trụ sẽ làm cho chúng tôi được sống lại trong cuộc sống đời đời".

Trích sách Macabê quyển thứ hai.

Trong những ngày ấy, có bảy anh em bị bắt làm một với mẹ mình, và bị vua cho đánh bằng roi da và roi gân bò, bắt ép ăn thịt heo mà lề luật đã cấm. Nhưng người anh cả của chúng tâu vua rằng: "Bệ hạ còn hỏi han và muốn dò xét chúng tôi làm chi? Chúng tôi sẵn sàng chịu chết hơn là phạm đến lề luật Thiên Chúa đã truyền cho tổ phụ chúng tôi".

Khi sắp thở hơi cuối cùng, người con thứ hai tâu vua rằng: "Hỡi vua độc ác kia, vua chỉ cất mất mạng sống chúng tôi ở đời này, nhưng Vua vũ trụ sẽ làm cho chúng tôi, là những kẻ đã chết vì lề luật của Người, được sống lại trong cuộc sống đời đời".

Sau khi người con thứ hai chết, thì đến người con thứ ba chịu cực hình, tên lý hình bảo cậu le lưỡi, cậu liền le lưỡi, dõng dạc giang hai tay ra và nói một cách tin tưởng rằng: "Tôi được Trời ban cho các phần thân thể này, nhưng giờ đây vì lề luật của Thiên Chúa, tôi khinh chê chúng, bởi tôi trông cậy rằng Người sẽ ban lại cho tôi các phần thân thể ấy". Nhà vua và những kẻ tuỳ tùng của ông lấy làm bỡ ngỡ thấy lòng mạnh bạo của cậu trẻ coi các cực hình như không.

Người con thứ ba chết rồi, thì người ta bắt người con thứ tư chịu cùng một cực hình. Lúc sắp chết, cậu nói rằng: "Thà chịu chết do tay người đời mà trông cậy Thiên Chúa sẽ cho sống lại thì hơn: Phần vua, vua sẽ không được sống lại để sống đời đời đâu".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 16, 1. 5-6. 8b và 15

Ðáp: Lạy Chúa, khi thức giấc, con no thỏa nhìn chân dung Chúa (c. 15b).

Xướng: Lạy Chúa, xin nghe điều chính nghĩa của con, xin để ý đến lời con kêu cứu, lắng tai nghe tiếng con thốt ra tự cặp môi chân thành. 

Xướng: Bước con đi bám chặt đường lối của Ngài, chân con đã không hề xiêu té. Con kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời con, lạy Chúa, xin lắng tai về bên con, xin nghe rõ tiếng con. 

Xướng: Xin che chở con trong bóng cánh của Ngài. Phần con, nhờ công chính, sẽ được thấy thiên nhan, khi thức giấc, con no thỏa nhìn chân dung Chúa. - 

Bài Ðọc II: 2 Tx 2, 15 - 3, 5

"Chúa làm cho lòng anh em bền vững trong mọi việc làm và lời nói tốt lành".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica.

Anh em thân mến, nguyện xin Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và Thiên Chúa là Cha chúng ta, Ðấng đã thương yêu chúng ta và dùng ân sủng của Người mà ban cho chúng ta sự an ủi đời đời và lòng cậy trông tốt lành, xin Người khuyên bảo và làm cho lòng anh em bền vững trong mọi việc làm và lời nói tốt lành.

Anh em thân mến, ngoài ra, xin anh em hãy cầu nguyện cho chúng tôi, để lời Thiên Chúa chóng lan tràn và được vinh hiển như việc đã thể hiện nơi anh em, và để chúng tôi thoát khỏi tay những kẻ lầm lạc và xấu xa: vì không phải hết mọi người đều có lòng tin. Nhưng Thiên Chúa là Ðấng trung thành, Người sẽ làm cho anh em được kiên vững và gìn giữ anh em khỏi sự dữ. Chúng tôi tin tưởng anh em trong Chúa: những điều chúng tôi truyền dạy, anh em hiện đang thi hành và sẽ còn thi hành. Nguyện xin Chúa hướng lòng anh em đến tình yêu Thiên Chúa và lòng kiên nhẫn của Ðức Kitô.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Lc 21, 36

Alleluia, alleluia! - Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 20, 27-38

"Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, có mấy người thuộc phái Sađốc, là những người chối không tin có sự sống lại, đến gần Chúa Giêsu hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, Môsê đã viết cho chúng tôi: Nếu ai có một người anh cưới vợ, rồi chết đi mà không có con, thì người em phải cưới người vợ goá đó, để cho anh mình có kẻ nối giòng. Vậy có bảy anh em: người thứ nhất cưới vợ rồi chết mà không có con. Người kế tiếp cưới vợ goá đó, rồi cũng chết không con. Người thứ ba cũng cưới người vợ goá đó. Và tất cả bảy người đều cưới như vậy và đều chết mà không để lại người con nào; sau cùng người thiếu phụ đó cũng chết. Vậy đến ngày sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ ai trong các người ấy? vì tất cả bảy người đều lấy người ấy làm vợ".

Chúa Giêsu trả lời họ rằng: "Con cái đời này cưới vợ, lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng. Họ sẽ không thể chết nữa: vì họ giống như thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa: vì họ là con cái của sự sống lại. Về vấn đề kẻ chết sống lại, thì Môsê đã cho biết điều ấy trong đoạn nói về Bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, và Thiên Chúa Giacóp. Nhưng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống. Vì mọi người đều sống cho Chúa".

Ðó là lời Chúa.

Hoặc bài vắn này: Lc 20, 27. 34-38

"Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, có mấy người thuộc phái Sađốc, là những người chối không tin có sự sống lại, đến gần Chúa Giêsu hỏi Người. Chúa Giêsu trả lời họ rằng: "Con cái đời này cưới vợ, lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng. Họ sẽ không thể chết nữa: vì họ giống như thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa: vì họ là con cái của sự sống lại. Về vấn đề kẻ chết sống lại, thì Môsê đã cho biết điều ấy trong đoạn nói về Bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, và Thiên Chúa Giacóp. Nhưng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống. Vì mọi người đều sống cho Chúa".

Ðó là lời Chúa.

Lời nguyện tín hữu

Chủ tế: Anh chị em thân mến! Để chuẩn bị hành trang cho Nước Trời mai sau, chúng ta cần ơn Chúa nâng đỡ và chở che suốt con đường lữ hành trần gian. Trong niềm xác tín đó, chúng ta thành tâm dâng lời cầu xin :

1. “Vua vũ trụ sẽ làm cho chúng ta được sống lại trong cuộc sống đời đời” - Xin cho Hội Thánh quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu tâm linh của con người, cổ võ một cuộc sống phục vụ, dấn thân và hướng dẫn con người nhận ra những giá trị vĩnh cửu của đời sau.

2. “Đấng đã yêu thương chúng ta và dùng ân sủng của Người mà ban cho chúng ta sự an ủi đời đời” - Xin cho các tín hữu đang đau khổ vì bệnh tật, vì nghèo đói được niềm an ủi, ơn sức mạnh, lòng hy vọng và ánh sáng Đức tin, để họ biết chấp nhận tất cả trong tình yêu Chúa.

3. “Khi thức giấc, tôi no thỏa tìm chân dung Chúa” - Xin cho mọi người trong giáo xứ chúng ta luôn biết cậy trông, tín thác vào Chúa quan phòng, nhiệt tình làm việc và phục vụ vì xác tín vào hạnh phúc đời sau.

4. “Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống” - Xin Chúa nhân từ, xót thương và thứ tha cho các linh hồn đã lìa cõi thế, được mau chung hưởng hạnh phúc Thiên Đàng cùng Mẹ Maria và các Thánh trên trời.

Chủ tế: Lạy Chúa, là Chúa của kẻ sống và kẻ chết, xin gìn giữ chúng con trong tinh thần nghĩa tử, biết luôn sống xứng đáng với tình yêu và ơn thánh Chúa ban, để mai ngày chúng con được Chúa thương ban hạnh phúc muôn đời. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, xin mở lượng khoan hồng đoái nhìn lễ vật Hội Thánh Chúa tiến dâng; để khi cử hành lễ tưởng niệm Con Chúa chịu khổ hình thập giá, chúng con biết đem cả tâm hồn lãnh nhận ơn phục sinh. Chúng con cầu xin...

Ca hiệp lễ

Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi, trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ, Người hướng dẫn tôi tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi.

Hoặc đọc:

Hai môn đệ đã nhận ra Chúa Giêsu khi Người bẻ bánh.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, chúng con xin hết lòng cảm tạ, vì Chúa đã dùng của ăn thánh bồi dưỡng chúng con, và tuôn đổ trên chúng con sức mạnh của Chúa, xin tiếp tục ban ơn Thánh Thần giúp chúng con bền chí sống cuộc đời ngay thẳng. Chúng con cầu xin...

Suy niệm

Sống lại
Sưu tầm

"Mặt trận phía tây hoàn toàn yên tĩnh", đó là tựa đề của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng. Cuốn tiểu thuyết này kể lại một câu chuyện thật cảm động:

Trong cuộc giao tranh giữa Đức và Pháp, một chú lính trẻ người Đức đang ngồi dưới hầm để tránh đạn, thì bất ngờ, một người lính Pháp lạc bước cũng nhảy xuống. Trước khi người lính Pháp nhận ra kẻ địch dưới hầm, thì anh đã bị chú lính Đức đâm cho mấy nhát, khiến anh ngã quỵ. Anh nằm thoi thóp chờ chết.

Chú lính Đức chăm chú nhìn vào cặp mắt sợ hãi của người lính Pháp. Chú thấy miệng của người lính này há hốc với đôi môi nứt nẻ. Chú ta liền động lòng thương, rút chai nước của mình và cho người lính thù địch ấy uống. Khi người lính ấy qua đời, chú ta cảm thấy ân hận thấm thía.

Trông thấy chiếc ví, chú ta liền mở ra xem, trong đó có bức ảnh chụp một người đàn bà và một bé gái. Chú ta bỗng nhận thấy người lính đã chết kia không còn phải là kẻ thù nữa, nhưng là một người chồng, một người cha, một người biết yêu thương như chú ta. Và điều gì đã xảy ra dưới hầm nơi chú lính Đức đối diện với người mà chú mới giết chết?

Phải chăng chú bất ngờ nhận ra bổn phận phải yêu thương đồng loại? Không phải vậy. Chú chợt nhìn thấy người từng bị xem là kẻ thù của chú bằng một ánh sáng hoàn toàn mới. Chính nhờ ánh sáng này mà chú đã thay đổi thái độ đối với người lính Pháp.

Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay. Như chúng ta đã biết: Nhóm Sađốc gồm những kẻ không tin có sự sống lại. Họ đã dựa vào đoạn sách Đệ Nhị Luật để đưa ra vấn nạn với Chúa Giêsu. Sách Đệ Nhị Luật viết: Khi anh em ruột ở chung với nhau mà một người chết không con, thì vợ của người ấy không được thuộc về người chồng khác ngoài nhà. Một người anh em của chồng sẽ lấy nàng làm vợ. Và đứa con trai đầu lòng sinh ra sẽ lưu danh người anh em đã chết.

Với vấn nạn này nhóm Sađốc đòi Chúa Giêsu phải có một lập trường dứt khoát. Nếu Ngài không tin có sự sống lại thì họ được thêm một đồng minh. Còn nếu Ngài tin, thì làm sao giải quyết vụ hôn nhân cho người vợ goá với bảy người anh em ruột làm chồng mình.

Dựa vào lời của Chúa, chúng ta thấy: nhóm Sađốc hiểu sai về việc sống lại, cũng như về cuộc sống mai sau. Với họ sống lại là phục hồi những điều kiện vật chất của người quá cố. Trong khi đó Chúa Giêsu lại bảo: Người sống lại sẽ giống như các thiên thần, nên không còn dựng vợ gả chồng nữa. Đối với chúng ta, vấn đề chỉ được thực sự giải quyết qua cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, để rồi chúng ta luôn tuyên xưng: Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau.

Từ những điều vừa trình bày, chúng ta đi tới hai kết luận. Kết luận thứ nhất đó là hãy biết yêu thương giúp đỡ những người chung quanh, nhất là những người thân yêu trong gia đình, như ông bà cha mẹ, anh chị em ngay từ bây giờ, lúc họ còn sống, kẻo khi sự chết đến thì đã quá muộn.

Kết luận thứ hai đó là hãy biết chuẩn bị cho mình những hành trang cần thiết là một tâm hồn trong sạch, không bị hoen ố bởi tội lỗi và đôi bàn tay chất đầy công nghiệp, bằng những hành động bác ái yêu thương chúng ta đã thực hiện được, nhờ đó trong ngày sau hết, chúng ta sẽ được Chúa đón nhận vào cuộc sống vĩnh cửu.

Suy niệm Chúa nhật 32 TN-C
Lm. Phêrô Trần Bảo Ninh
 
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 20, 27-38)
 
Khi ấy, có mấy người thuộc phái Sađốc, là những người chối không tin có sự sống lại, đến gần Chúa Giêsu hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, Môsê đã viết cho chúng tôi: Nếu ai có một người anh cưới vợ, rồi chết đi mà không có con, thì người em phải cưới người vợ goá đó, để cho anh mình có kẻ nối giòng. Vậy có bảy anh em: người thứ nhất cưới vợ rồi chết mà không có con. Người kế tiếp cưới vợ goá đó, rồi cũng chết không con. Người thứ ba cũng cưới người vợ goá đó. Và tất cả bảy người đều cưới như vậy và đều chết mà không để lại người con nào; sau cùng người thiếu phụ đó cũng chết. Vậy đến ngày sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ ai trong các người ấy? vì tất cả bảy người đều lấy người ấy làm vợ”.
Chúa Giêsu trả lời họ rằng: “Con cái đời này cưới vợ, lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng. Họ sẽ không thể chết nữa: vì họ giống như thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa: vì họ là con cái của sự sống lại. Về vấn đề kẻ chết sống lại, thì Môsê đã cho biết điều ấy trong đoạn nói về Bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, và Thiên Chúa Giacóp. Nhưng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống. Vì mọi người đều sống cho Chúa”.
 
Suy niệm

Bước vào tháng 11, mỗi tín hữu được mời gọi sống mầu nhiệm các thánh cùng thông công với thánh lễ long trọng vào ngày đầu tháng, lễ các Thánh Nam Nữ, tiếp đó là thánh lễ hướng về các Linh hồn, những người thân yêu trong gia đình mỗi người, cũng như trong đại gia đình nhân loại đã yên giấc ngàn thu. Mầu nhiệm thông công này phần nào nói lên giá trị sâu xa nhất nơi mỗi con người, khi được Tạo Hoá tạo dựng giống hoạ ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi.
 
Câu chuyện về một gia đình có 7 người con cùng người Mẹ yêu dấu, lãnh phúc tử đạo trong một ngày, được tác giả sách Macabe trình bày, để lại cho chúng ta những nghĩ suy về quan niệm sự sống đời sau từ thời Cựu ước. Khái niệm về sự sống đời sau có thể nói là đã tồn tại trong tiềm thức mỗi người khi họ hiện hữu, tất cả như một hạt giống đang âm thầm ẩn mình. “Trong những ngày ấy, có bảy anh em bị bắt làm một với mẹ mình, và bị vua cho đánh bằng roi da và roi gân bò, bắt ép ăn thịt heo mà lề luật đã cấm. Nhưng người anh cả của chúng tâu vua rằng: “Bệ hạ còn hỏi han và muốn dò xét chúng tôi làm chi? Chúng tôi sẵn sàng chịu chết hơn là phạm đến lề luật Thiên Chúa đã truyền cho tổ phụ chúng tôi”. Trong hành trình của lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã mạc khải cho dân riêng Ngài những tâm tình linh thánh con người cần có, để phụng sự Thiên Chúa, trong đó có các nghi lễ, các lề luật, các ngày lễ đặc biệt, sâu xa hơn là những quan niệm về con người, về sự sống hôm nay và mai sau. Tất cả cộng góp tạo nên vẻ đẹp trong tuyệt tác của Tạo Hoá là con người. Từ những nghi lễ và lề luật đó, con người thể hiện tâm tình tôn giáo, xa hơn, con người được mời gọi hướng về sự sống đời sau, nơi đó, con người không còn phải kiếm tìm những phương tiện, những cứu cánh như lúc còn hiện hữu. Tất cả như ngụp lặn trong niềm vui và hạnh phúc của Thiên Chúa.
 
Với những thăng trầm trong mọi sinh hoạt của các cộng đoàn Giáo hội sơ khai, thánh Phaolô luôn gởi lời thăm hỏi qua các lá thư, nơi đó, Ngài gởi gắm tình thương cùng với những lời động viên và chia sẻ trong những khó khăn của cộng đoàn, bên cạnh đó, Ngài cũng giúp họ vững tin về những chủ thuyết trái với những giá trị của ơn cứu độ, đặc biệt quan niệm về sự sống đời sau, thánh nhân cũng gởi tới cộng đoàn Thexalonica lời khuyên bảo chân tình của một người bạn trong hành trình đức tin: “nguyện xin Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và Thiên Chúa là Cha chúng ta, Ðấng đã thương yêu chúng ta và dùng ân sủng của Người mà ban cho chúng ta sự an ủi đời đời và lòng cậy trông tốt lành, xin Người khuyên bảo và làm cho lòng anh em bền vững trong mọi việc làm và lời nói tốt lành.”. Lời khuyên bảo đó như mà động lực giúp các tín hữu trong cộng đoàn can đảm hơn, xác tín hơn và sống hiệp thông hơn với mọi người, với Giáo hội và với Thiên Chúa. Mỗi ngày, họ còn đối diện với những quan niệm lệch lạc về thế giới bên kia, lắm lúc làm cho đức tin bị dao động, tương quan tình người bị gián đoạn. Thiên Chúa gieo vào trong tâm hồn mỗi người những hạt giống tốt về đức tin, về đạo hiếu, về sự sống đời sau của con người, với những điều kiện thuận lợi, những yếu tố cần thiết, ắt sẽ mọc lên và trổ sinh nhiều bông lúc vàng. Bao nhiêu anh chị em trong các cộng đoàn Giáo hội sơ khai đó đã ra đi để bảo vệ những hạt giống tốt đó, họ đã được Thiên Chúa thưởng công trên trời trong cộng đoàn Giáo hội khải hoàn.  
 
Để khỏi bị lép vế đối với các phe nhóm khác, nhóm Sadoc đến gặp Đức Giêsu với một khái niệm bấy lâu nay họ tin là không có, đó là sự sống đời sau. Câu chuyện được thánh Luca kể lại trong bài tin mừng Chúa nhật 32 Thường niên, như là một câu trả lời cho phe nhóm đó cũng như chúng ta hôm nay. Trong các phe nhóm thời Chúa Giêsu, quan niệm về cuộc sống, về tương lai cuộc đời, đặc biệt là sự sống đời sau, mỗi nhóm mỗi khác. Sự khác biệt đó có những lúc lên đỉnh điểm với những cuộc tranh luận gay gắt. Trước những bài giáo lý của Đức Giêsu, họ muốn tìm một câu trả lời cho mình và cho các phe nhóm khác, để khẳng định quan điểm của phe nhóm mình. Nhân dịp đó, Đức Giêsu đã gởi đến những người Sadoc và chúng ta một bài học về sự sống đời đời. “Về vấn đề kẻ chết sống lại, thì Môsê đã cho biết điều ấy trong đoạn nói về Bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, và Thiên Chúa Giacóp. Nhưng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống”. Sự hiện diện của Đức Giêsu không phải là một tín hiệu xấu, là đem sự chết cho nhân loại, nhưng sự hiện diện của Ngài là một tín hiệu tích cực, Ngài đến đem sự sống đời đời cho con người. sự sống đó phát xuất từ sự sống đời đời của Thiên Chúa. Những ai đón nhận lời của Con Thiên Chúa sẽ được dự phần với Ngài trên trời. trong lời cầu nguyện của Đức Giêsu với Chúa Cha, Ngài nói: “Lạy Cha, con muốn rằng những kẻ nghe lời Con thì Con ở đâu, chúng cũng ở đó với Con”. Thiên Chúa yêu con người đến nỗi đã ban chính người Con duy nhất của Ngài cho con người, cho con người tham dự vào sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa. Quả là một hồng ân lớn lao, và cũng là một yếu tố nói lên sự cao cả của một tạo vật mang hoạ ảnh của Thiên Chúa. Thế nhưng, con người với những tiến bộ về nhận thức, với những phát triển về khoa học và kỹ thuật, đã đặt giá trị của sự sống đời đời như một phương tiện Thiên Chúa thưởng công cho ai sống tốt. Một quan niệm như thế dễ dẫn con người đến chỗ đặt mọi giá trị hiện tại vào vị trí cứu cánh cuộc đời, đồng thời, đặt cứu cánh cuộc đời là sự sống vĩnh cửu bên cạnh Thiên Chúa thành một phương tiện bên cạnh cuộc sống của con người. Với quan niệm như thế, nhóm Sadoc đã phủ nhận sự sống đời đời, vì họ cho rằng đó là một khái niệm viễn vông, cuộc sống con người phải thực dụng, tất cả những gì hiện có của con người sẽ đáp ứng mọi nhu cầu, thoả mãn mọi yêu sách cuộc sống của con người.
 
Câu chuyện trong bài Tin Mừng đề cập đến là một vấn nạn trong cuộc sống hiện tại của con người. Ảnh hưởng từ chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa hưởng thụ, con người chỉ cần những phương tiện, những công cụ, những phát minh để đáp ứng cuộc sống, để kéo dài tuổi thọ cho con người, để xua tan bệnh tật, giúp con người có thêm thời gian hưởng thụ mọi nhu cầu. Vì thế, sự sống đời sau được coi là một quan niệm viễn vông, không có gì có thể minh chứng cho điều đó. Với những quan niệm như thế, tất thảy đã ảnh hưởng đến niềm tin của người tín hữu Kitô, họ không còn thiết tha với mọi sinh hoạt của tôn giáo, không còn can đảm đứng lên tới nhà thờ để tham dự Thánh lễ vào ngày Chúa nhật, bởi chỉ tốn thời gian và gây phiền hà. Cũng từ đó, quan niệm về mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người cũng bị giảm nhẹ, gây nên những khoảng cách vô tận, khiến con người không còn tin tưởng va yêu mến Thiên Chúa đủ cho bản thân. Cũng khởi đi từ đó, tương quan tình người, giữa người sống với nhau, giữa người sống với người đã khuất cũng thay đổi. Những hy sinh, những lời cầu nguyện, những Thánh lễ giúp đỡ cho các linh hồn không còn được quan tâm.
 
Được minh hoạ bởi cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và những người thuộc nhóm Sadoc, nhưng thực tế còn đi xa hơn và đó là cuộc đối thoại giữa nhân loại hôm nay với Thiên Chúa, chủ tể và là nguồn gốc sự sống đời sau. Xã hội tiến bộ, chủ nghĩa cá nhân và cái tôi luôn được đề cao, mọi cái trở thành thực dụng, làm sao để đáp ứng mọi nhu cầu của con người, do đó, vấn đề niềm tin, vấn đề sự sống đời sau luôn bị coi là thứ yếu, không còn mấy người quan tâm, bởi đó là một quan niệm có chút cổ hủ. Cuộc sống hôm nay con người đặt những nhu cầu của cái tôi lên trên tất cả mọi khía cạnh khác của cuộc sống, dù đó là yếu tố tâm linh, bởi thế, sống đạo hôm nay luôn được coi là một thách đố không nhỏ đối với người tín hữu Kitô, dù đó là một giáo dân hay một Tu sĩ, thậm chí cả các Giáo sĩ. Khởi đi từ con người, không ai muốn mình bị thua thiệt, không ai muốn cái tôi của mình bị nhấn chìm trong sự quên lãng, do đó, họ phải đấu tranh, họ phải làm sao để có được tất cả, thậm chí là chấp nhận trở thành một người quản lý bất lương, tính toán hơn thiệt với Thiên Chúa. Vậy làm sao để ra khỏi sự kìm toả của những chiếc vòng kim cô đó, nếu không nhờ đến sức mạnh của Thánh Thần. Chúa Thánh Thần đang hoạt động mãnh liệt giữa lòng Giáo hội, thế nhưng, để nghe được tiếng của Ngài nhắc nhở, cũng là một vấn nạn, bởi con người sợ cô đơn giữa thế giới ồn ào, họ luôn tìm đến những chỗ đông người trong tiếng nhạc chát chúa, tìm đến những nơi đáp ứng mọi nhu cầu của họ, ít ai dám tìm đến vùng sa mạc giữa cuộc sống để có thể nghe được tiếng nói của Chúa Thánh Thần.
 
Lạy Chúa, Ngài là chủ tể sự sống và là nguồn cội sự sống, Ngài đem đến cho thế giới sự sống và mời gọi tất cả đi vào thế giới sự sống, vào ngôi nhà của sự sống, xin cho mỗi người chúng con hiểu rằng, cuộc đời con người không đi tìm những ảo tưởng và hạnh phúc đời này, nhưng là sự sống đời sau và hạnh phúc nước Trời. Chúa Cha đã chuẩn bị cho chúng con một quê hương đích thực là Nước Trời, nơi đó chúng con được sống trong tình thương và sự quan phòng của Thiên Chúa, xin cho mỗi người luôn cố gắng thay đổi cuộc đời của mình mỗi ngày, để mai sau được trở về quê hương đích thực của mình là Nước Trời, nơi đó không còn đau khổ và chết chóc, chỉ còn là hạnh phúc và bình an đích thực. Amen.
 

Lm. Phêrô Trần Bảo Ninh

THIÊN CHÚA CỦA KẺ SỐNG
(Chúa Nhật XXXII TN C) - Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột
 
“Cuộc đời con người không phải là một hành trình đi từ chiếc nôi đến ngôi mộ mà là một quá trình đi từ hữu hạn đến vĩnh hằng”. Trên đây là câu nói của một bạn trẻ Công giáo trong một dịp hội thảo về ý nghĩa của cuộc đời. Chắc hẳn để có được câu nói này thì các bạn trẻ, cách riêng các bạn trẻ Việt Nam, những người dù đang gặp nhiều khó khăn khi hướng về tương lai, nhưng một cách nào đó vẫn có một khát khao cháy bỏng vươn lên và tồn tại.

Có cuộc sống đời sau hay không? Một nhóm người phái Sađốc đã đặt ra cho Chúa Giêsu một vấn nạn qua một câu chuyện tưởng chừng như bịa, nhưng không phải là không thể xảy ra. Đâu cần đến cả thảy bảy anh em trai cùng cưới một phụ nữ theo tập tục vốn đã thành luật của người Do Thái thời bấy giờ, ngay hôm nay vẫn có đó nhiều người tái hôn cách hợp pháp khi người phối ngẫu trước đã qua đời. Thế thì đến ngày sau giải quyết tình trạng hôn nhân của họ ra sao đây?

Xét về mặt luận lý thì chúng ta không thể phủ nhận một điều gì đó khi trí khôn chưa rõ hoặc hầu như khó mà hiểu biết thấu đáo. Chẳng hạn khi chưa hiểu rõ cấu trúc vận hành của một thiên thể nào đó hay một loại virus nào đó thì không thể tiên thiên khẳng định là chúng không hiện hữu. Một số người chủ trương rằng cái gì hợp lý hay hữu lý mới hiện hữu, thì chỉ có thể hiểu sự hữu lý theo khía cạnh nội tại của chính hữu thể chứ không phải theo lôgich của luận lý con người. Tuy nhiên ở đây chúng ta cần chân nhận một thực tế này: Nhiều người phủ nhận một sự thật nào đó không phải vì chính sự thật ấy xem ra không hữu lý nhưng vì sự thật ấy đụng chạm đến lối sống của mình, và rất nhiều khi sự thật ấy một cách nào đó tố cáo lối sống chưa chính đáng và phải đạo của mình.

Nhóm Sađốc vốn là những người thuộc hàng tư tế chủ trương thỏa hiệp với chính quyền thời bấy giờ. Thời nào cũng thế, khi thỏa hiệp, thân thiện với chính quyền thì sẽ hưởng được nhiều danh vị, lợi lộc mà có khi là bất minh và bất chính. Một khi lòng đã dính bén với của tiền, danh vọng đời này thì ít có ai dám nghĩ đến ngày phải xa, phải mất chúng. Không tin vào sự sống lại, không tin vào sự sống ngày sau, thực ra nhiều khi chỉ là một cách biện bạch cho lối sống tham danh, hám lợi cách bất chính mà thôi. Nếu chết là hết, nếu không có đời sau thì cớ sao chúng ta không tìm mọi cách vơ vét của tiền, danh vị để hưởng thụ ở đời nầy?

Thế nhưng, những người chủ trương rằng không có đời sau thì dường như lòng họ vẫn mãi không yên. Ngay sự kiện họ cố tìm cách biện minh cũng đủ minh chứng cho sự thật này. Và đặc biệt những khi họ đối diện với sự dữ, nhất là với nấm mộ gần kề thì sự băn khoăn ấy càng mãnh liệt bội phần. Không, không một ai có thể dập tắt khát vọng sống mãi nơi lòng mình. Ngay cả những người tìm đến cái chết bằng sự tự vẫn thì cũng là một hình thái của khát vọng được sống tốt đẹp và vĩnh tồn mà không có lối thoát.

Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống. Một câu khẳng định rõ ràng về các hiện hữu, nhất là về sự hiện hữu của con người. Công cuộc của Đấng hằng sống phải là những gì mãi tồn tại. Dĩ nhiên hình thức tồn tại có thay đổi theo thời gian và theo quy luật Thiên Chúa đặt định. Ánh sáng đức tin qua Lời mạc khải cho chúng ta thấy sự chết chỉ là cánh cửa để bước qua một cõi sống khác mà chúng ta gọi là sự sống đời sau. Đã có sự sống đời sau thì hẳn có sự sống lại, không phải là lấy lại sự sống như ở đời này nhưng được biến đổi và theo một quy luật khác. Chúa Kitô dùng kiểu nói “như các Thiên Thần” để ám chỉ hình thái hiện hữu này. Khi đã tin có đời sau thì chắc hẳn phải tin có sự xét xử và thưởng phạt công minh.

Giữa cuộc sống, cách sống và niềm tin có mối tương quan hữu cơ và cách nào đó có thể gọi là tương quan biện chứng. Vì tôi tin chỉ có đời này mà thôi nên tôi phải tìm cách để tận hưởng các thiện hảo đời này bất chấp mọi phương thế, cho dù nhiều khi là bất chính. Trái lại khi quá dính bén với những thiện hảo đời này và sẵn sàng chiếm hữu chúng cách phi pháp thì tôi sẽ chủ trương rằng không có đời sau. Vì nếu có đời sau thì hệ lụy tất yếu đó là tôi phải trả lẽ về những gì tôi đã làm ở đời này.

Kitô hữu vẫn hằng tuyên xưng trong các thánh lễ Chúa Nhật và Lễ trọng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy” (Kinh Tin Kính các thánh Tông Đồ) hay “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau” (Kinh Tin kính Nicêa-Constantinôpôli). Giữa lời tuyên xưng đức tin và cuộc sống chúng ta đã có sự tương hợp thống nhất như thế nào? Cuộc đời các thánh, cách riêng các vị tử đạo là một lời tuyên xưng đức tin khả tín. Cả bảy anh em thời Macabêô và người mẹ đã anh dũng tuyên xưng đức tin về sự sống đời sau, khi chấp nhận trả giá bằng mạng sống của mình để trung thành với Thiên Chúa qua việc tuân giữ lề luật (x.2 Mcb 7). (Bài đọc thứ nhất).

Có thể nói rằng một dấu chỉ không thể thiếu của niềm tin về sự sống đời sau đó là can đảm đón nhận mọi gian khổ, sống tự do với những thiện hảo đời này, sẵn sàng từ bỏ chúng khi sự thật, công lý và tình yêu đòi hỏi.

Một cuộc sống mà ngôn hành bất nhất thì chắc chắn thiếu sự khả tín và dĩ nhiên là không đáng kính mà nhiều khi còn bị dè bỉu, không trước mặt thì cũng sau lưng. Phải thú nhận rằng đang tồn tại hiện tượng nghịch lý và nghịch thường trong xã hội chúng ta: Những người chủ trương “duy vật” thì sống rất duy ý chí và cả “duy tâm” trong nhiều hình thái mê tín lầm lạc, còn người tuyên xưng có linh hồn bất tử, thân xác sẽ sống lại, tuyên xưng có sự sống đời sau thì lại sợ khó, ngại khổ, không dám mạnh mẽ rao truyền chân lý, chưa can đảm bảo vệ công lý, chưa sẵn sàng từ bỏ chút danh vị hay quyền lợi để sống giới luật mới, giới luật yêu thương mà Chúa Kitô đã truyền (x.Ga 13,34-35).

Xin thử hỏi rằng chúng ta đã can đảm đón nhận mọi gian khổ để rao truyền chân lý, để bảo vệ công lý chưa? Xin thử hỏi rằng chúng ta đã sẵn sàng từ bỏ những quyền lợi, danh vị của mình để sống yêu thương phục vụ tha nhân, phục vụ người nghèo, người khốn khổ, bất hạnh, bị áp bức, bị bỏ rơi… trong xã hội và trong Giáo Hội như thế nào? Thành thực trả lời những câu hỏi này thì chúng ta sẽ biết mức độ của lòng tin chúng ta vào Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống như thế nào và sẽ biết niềm tin của chúng ta về sự sống ngày sau ra sao.

 

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột
 

Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...