Giáo Phận Ban Mê Thuộthttps://gpbanmethuot.com/assets/images/logo.png
Thứ năm - 19/03/2026 10:15 |
Tác giả bài viết: GB. NGUYỄN THÁI HÙNG |
27
Người Chết Sống Lại vĩ đại nhất chính là Chúa Giêsu Kitô.
Người Chết Sống Lại
I. CHÚA GIÊSU KITÔ 1. Biến Cố Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh 2. Ngôi Mồ Trống 3. Chúa Hiện Ra Với Các Môn Đệ II. NHỮNG CUỘC HỒI SINH TRONG TIN MỪNG 1. Con Gái Ông Giaia Sống Lại 2. Con Trai Bà Góa Thành Naim Sống Lại 3. Ladarô Sống Lại Sau Bốn Ngày Trong Mồ III. CÁC CUỘC HỒI SINH ĐƯỢC GHI LẠI TRONG TÂN ƯỚC 1. Thánh Phêrô và Bà Tabitha Tại Giaphô 2. Thánh Phaolô và Anh Thanh Niên Êutykhô Tại Trôa IV. NHỮNG CUỘC HỒI SINH TRONG THÁNH KINH 1. Ngôn Sứ Êlia và Con Trai Bà Góa Xarépta 2. Ngôn Sứ Êlisa và Con Trai Bà Sunêm 3. Ngôn Sứ Êlisa và “Phép Lạ Sau Khi Chết” 4. Những Trường Hợp Sống Lại Khác a.Thị kiến “Cánh đồng xương khô” b. Các thánh sống lại khi Chúa Giêsu trút hơi thở c. “Hai chứng nhân” trong Sách Khải Huyền 5. Những Người Không Chết a. Khanốc: Người bộ hành cùng Thiên Chúa b. Ngôn sứ Êlia và Cỗ xe rực lửa VII. TRONG DÒNG LỊCH SỬ CỦA GIÁO HỘI 1. Thánh Gioan Tông đồ 2. Thánh Anrê Tông đồ 3. Thánh Martin Thành Tours 4. Thánh Antôn Pađôva 5. Thánh Vinh Sơn Phêriê 6. Thánh Phanxicô Xaviê 7. Thánh Gioan Bốtcô 8. Cha Đắc Lộ 9. Cây Thánh Giá Của Chúa Kitô VIII. ĐỨC MARIA 1. Tín Điều Của Giáo Hội 2. Hai Truyền Thống Trong Giáo Hội a. Truyền thống Đức Maria có chết b. Truyền thống Đức Maria không chết 3. Giáo Hội Nói Gì?
Người Chết Sống Lại vĩ đại nhất chính là Chúa Giêsu Kitô.
“Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy.”
Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao? (Lc 24, 19-26).
I. CHÚA GIÊSU KITÔ
1. Biến Cố Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh
Sau khi bị đóng đinh và chết trên thập giá, Chúa Giêsu Kitô được mai táng trong mồ đá vào chiều thứ Sáu. Đến sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, các phụ nữ đến mồ thì thấy tảng đá đã lăn ra, ngôi mồ trống và có thiên thần báo tin: “Các bà tìm Đức Giê-su Na-da-rét, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Người đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa”(Mc 16, 6).
Biến cố này được cả 4 thánh sử thuật lại:
Tin mừng thánh Mátthêu chương 28, Tin mừng thánh Máccô chương 16, Tin mừng thánh Luca chương 24, Tin mừng thánh Gioan chương 20-21.
Đây chính là biến cố Chúa Giêsu Kitô Phục sinh.
2. Ngôi Mồ Trống
Dấu chỉ đầu tiên của Phục sinh là ngôi mộ trống (Ga 20, 1-10; Mt 28, 1-8; Mc 16, 1-8; Lc 24, 1-11).
Những người đầu tiên phát hiện ngôi mộ trống là bà Maria Mácđala và các người phụ nữ ra viếng mộ. Sau đó là thánh Phêrô và thánh Gioan.
Tin Mừng nói rằng: “Ông Gioan đã thấy và đã tin” (Ga 20, 8).
Mồ trống không phải là bằng chứng duy nhất, nhưng là dấu chỉ đầu tiên của Phục Sinh.
3. Chúa Hiện Ra Với Các Môn Đệ
Sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra nhiều lần với các môn đệ.
Một số lần hiện ra nổi bật là:
- Hiện ra với Maria Mácđala tại mộ (Ga 20, 11-18; Mt 28, 9-10; Mc 16, 9-11).
- Hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmau (Lc 24, 13-35).
- Hiện ra với các tông đồ trong phòng đóng kín (Ga 20, 19-23; Mt 28, 16-20; Mc 16, 14-18; Lc 24, 36-49).
- Hiện ra với Tôma (Ga 20, 24-29).
- Hiện ra với các môn đệ bên bờ hồ Galilê (Ga 21, 1-14).
Thánh Phaolô, trong Thư gửi tín hữu Côrintô, viết khoảng năm 53-55 sCN, tức là chỉ khoảng 20 năm sau biến cố Chúa Giêsu Phục sinh, liệt kê rằng Chúa Phục Sinh đã hiện ra cho hơn 500 người cùng một lúc, mà “phần lớn trong số họ hiện nay còn sống” (1 Cr 15,6)
Những lần hiện ra này giúp các môn đệ xác tín rằng Chúa thật sự sống lại.
II. NHỮNG CUỘC HỒI SINH TRONG TIN MỪNG
Trong Tin mừng có thuật lại 3 trường hợp Chúa Giêsu làm phép lạ cho người chết sống lại
1. Con Gái Ông Giaia Sống Lại (Mc 5, 21-43; Lc 8, 40-56)
“Đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”
Nhân vật chính là Giaia, một trưởng hội đường. Ông chạy đến xin Chúa: “Con bé nhà tôi sắp chết, xin Thầy đến đặt tay trên nó để nó được sống.” Khi Chúa đang đi, người nhà báo tin: “Con bé chết rồi, làm phiền Thầy làm gì nữa.” Nhưng Chúa nói một câu rất mạnh: “Đừng sợ, chỉ cần tin thôi.” Khi đến nhà, Chúa cầm tay đứa bé và nói: “Ta-li-tha kum” - nghĩa là: Này bé, Thầy truyền cho con: hãy trỗi dậy. Và cô bé đứng dậy ngay lập tức.”
Câu chuyện này dạy rằng đức tin mạnh hơn nỗi sợ. Chúa có thể biến tuyệt vọng thành hy vọng
Đây là phép lạ xảy ra ngay sau khi đứa bé vừa chết.
2. Con Trai Bà Góa Thành Naim Sống Lại (Lc 7, 11-17)
“Chạnh lòng thương.”
Chúa đến một thành nhỏ tên Naim. Ngài gặp một đám tang. Người chết là con trai duy nhất của một bà góa. Trong xã hội Do Thái, mất chồng, mất con trai duy nhất đồng nghĩa với mất hết chỗ dựa trong đời.
Tin Mừng nói: “Thấy bà, Chúa Giêsu chạnh lòng thương.” Chúa đến gần quan tài và nói: “Này thanh niên, Ta bảo anh: hãy chỗi dậy.” Người chết ngồi dậy và bắt đầu nói. Và Tin Mừng ghi lại “Chúa trao anh lại cho mẹ anh”.
Phép lạ này cho thấy Thiên Chúa đầy lòng thương xót, Ngài quan tâm đến những người đau khổ nhất. Ở đây Chúa không chờ ai xin, Ngài chủ động cứu giúp.
3. Ladarô Sống Lại Sau Bốn Ngày Trong Mồ (Ga 11, 1-45)
“Đức Giêsu liền khóc.”
Đây là phép lạ lớn nhất. Ladarô đã chết, đã được chôn bốn ngày. Theo quan niệm Do Thái, sau ba ngày không còn hy vọng sống lại. Vậy mà Chúa Giêsu đứng trước mồ và kêu: “Ladarô, hãy ra ngoài!” Người chết đi ra khỏi mồ.
Phép lạ này mặc khải rõ nhất Chúa Giêsu là Chúa của sự sống và Chúa Giêsu có quyền trên sự chết.
Và chính phép lạ này dẫn đến việc các lãnh đạo Do Thái quyết định giết Chúa.
III. CÁC CUỘC HỒI SINH ĐƯỢC GHI LẠI TRONG TÂN ƯỚC
Sau khi Chúa Giêsu Phục sinh và các Tông đồ bắt đầu rao giảng Tin mừng, sách Công vụ Tông đồ kể lại rằng Thiên Chúa cũng thực hiện những phép lạ cho người chết sống lại qua các Tông đồ. Hai trường hợp nổi bật là của thánh Phêrô và thánh Phaolô.
1.Thánh Phêrô và Bà Tabitha Tại Giaphô (Cv 9, 36-42)
Bà Tabitha, còn gọi là Linh Dương, một môn đệ chuyên làm việc thiện và bố thí. Bà lâm bệnh và qua đời. Các môn đệ khác nghe tin thánh Phêrô đang ở gần đó nên đã mời ngài đến.
Phê-rô đến và bảo mọi người ra ngoài, giống cách Chúa Giêsu làm tại nhà ông Gia-ia. Ngài quỳ xuống cầu nguyện, điều này cho thấy quyền năng không đến từ ngài, mà từ Thiên Chúa. Ngài nói: “Này bà Tabitha, hãy trỗi dậy!”
Phép lạ này củng cố niềm tin cho cộng đoàn non trẻ tại Giêrusalem. Nó cho thấy cái chết không thể ngăn cản sứ mạng bác ái và sự hiệp thông của các thánh.
2. Thánh Phaolô và Anh Thanh Niên Êutykhô Tại Trôa (Cv 20, 7-12)
Trong một buổi họp mặt cử hành Lễ Bẻ Bánh, thánh Phaolô giảng giải kéo dài đến tận nửa đêm. Anh thanh niên Êutykhô ngồi bên cửa sổ vì buồn ngủ nên đã ngã từ tầng ba xuống đất và “được vực lên thì đã chết”.
Thánh Phaolô đi xuống, ôm lấy anh ta và nói: “Đừng xôn xao nữa, vì nó còn sống!”
Cử chỉ ôm lấy gợi nhớ đến các ngôn sứ Êlia và Êlisê trong Cựu Ước, thể hiện sự truyền thông sự sống qua tiếp xúc thân thể và lời cầu nguyện khẩn thiết. Sau phép lạ, thánh Phaolô tiếp tục lên bẻ bánh và giảng tiếp cho đến sáng.
Phép lạ này nhấn mạnh tầm quan trọng của Lời Chúa và Bí tích Thánh Thể. Dù cái chết có chen ngang, nhưng sự sống của Chúa, qua Phục sinh, luôn chiến thắng để cộng đoàn tiếp tục cử hành phụng vụ trong niềm vui.
IV. NHỮNG CUỘC HỒI SINH TRONG THÁNH KINH
Trong Cựu Ước, trước thời Chúa Giêsu rất lâu, Kinh Thánh đã kể hai phép lạ cho người chết sống lại do hai ngôn sứ lớn thực hiện là Êlia và Êlisa. Những câu chuyện này được ghi trong Quyển thứ Nhất và thứ Hai sách Các Vua.
1. Ngôn Sứ Êlia và Con Trai Bà Góa Xarépta (1 Vua 17, 17-24)
Đây là phép lạ cho người chết sống lại đầu tiên được ghi lại trong Kinh Thánh.
Bà góa thành Xarépta đã nuôi dưỡng ngôn sứ Êlia trong thời kỳ hạn hán. Khi con trai bà ngã bệnh và qua đời, bà đã trách ngôn sứ.
Êlia đưa đứa trẻ lên phòng trên, đặt nằm trên giường của mình. Ngài nằm đè lên đứa trẻ ba lần và kêu cầu Đức Chúa.
Hành động này tượng trưng cho việc truyền hơi ấm và sự sống từ người của Đức Chúa sang xác chết.
Kết quả là đứa trẻ sống lại. Bà góa tuyên bố: “Nay tôi biết ông là người của Thiên Chúa, và lời Đức Chúa do miệng ông nói ra là sự thật.”
Phép lạ này nhấn mạnh rằng Thiên Chúa ban sự sống để đáp lại lòng hiếu khách và đức tin của những người dân ngoại.
2. Ngôn Sứ Êlisa và Con Trai Bà Sunêm (2 Vua 4, 18-37)
Êlisa là môn đệ kế thừa thần khí của Êlia, và phép lạ của ngài còn chi tiết hơn.
Một phụ nữ giàu có ở Sunêm đã đón tiếp Êlisa. Ngài hứa bà sẽ có con dù chồng bà đã già. Khi đứa trẻ lớn lên, nó bị đau đầu và chết trên đầu gối mẹ.
Bà cầu xin ngôn sứ Êlisa.
Êlisa vào phòng, đóng cửa lại và cầu nguyện. Ngài nằm lên đứa trẻ “áp miệng mình vào miệng nó, mắt mình vào mắt nó, tay mình vào tay nó”. Ngài làm như vậy hai lần cho đến khi xác đứa trẻ nóng lên và nó hắt hơi bảy lần rồi mở mắt.
Sự kiên trì trong cầu nguyện và sự tiếp xúc thân thể biểu trưng cho sự hiệp thông sâu xa giữa ơn gọi ngôn sứ và nỗi đau của nhân loại.
3. Ngôn Sứ Êlisa và “Phép Lạ Sau Khi Chết” (2 Vua 13, 20-21)
Ngôn sứ Êlisa qua đời và đã được chôn cất. Một hôm, có nhóm người đang đi chôn một người quá cố thì thấy quân thù kéo đến. Họ vội vàng quăng xác người đó vào mộ của ngôn sứ Êlisa.
Vừa khi xác người đó chạm vào hài cốt của ngôn sứ Êlisa, người ấy liền sống lại và đứng thẳng lên.
Điều này khẳng định ân sủng của Thiên Chúa vẫn lưu lại trên những người thánh ngay cả khi họ đã qua đời. Nó tiên báo về sức mạnh của sự thánh thiện và sự phục sinh sau này.
4. Những Trường Hợp Sống Lại Khác
Trong Kinh Thánh, ngoài những trường hợp trên, vẫn còn một vài trường hợp “sống lại” rất đặc biệt và mang tính biểu tượng cao. Những trường hợp này giúp chúng ta hiểu về quyền năng phục sinh của Thiên Chúa từ thuở ban sơ đến ngày tận thế.
a. Thị kiến “Cánh đồng xương khô” (Êdêkiên 37, 1-14)
Đây không phải là việc làm cho một cá nhân sống lại, mà là một phép lạ tập thể mang tính ngôn sứ cho toàn thể dân tộc.
Ngôn sứ Êdêkiên được dẫn đến một thung lũng đầy xương khô nát. Thiên Chúa hỏi: “Hỡi con người, liệu các xương này có thể sống lại được không?”
Theo lệnh Chúa, Êdêkiên tuyên sấm. Các xương bắt đầu xích lại gần nhau, gân mọc ra, thịt đắp vào và da bao bọc lấy. Sau đó, Thần khí thổi vào và chúng đứng dậy thành một đạo quân vô cùng đông đảo.
Đây là hình ảnh tiên báo về sự phục hưng của Ítraen sau thời lưu đày và xa hơn là sự phục sinh của thân xác loài người trong ngày sau hết.
b. Các thánh sống lại khi Chúa Giêsu trút hơi thở (Mt 27, 51-53)
“Ngay lúc đó, (khoảnh khắc Chúa Giêsu chết trên Thập giá) bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ. Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy. Sau khi Chúa trỗi dậy, các ngài ra khỏi mồ, vào thành thánh, và hiện ra với nhiều người.”(Mt 27, 51-53)
Đây là một chi tiết cực kỳ huyền bí chỉ có trong Tin Mừng theo Thánh Mátthêu.
Phép lạ này khẳng định rằng cái chết của Chúa Giêsu có sức mạnh bẻ gãy gông cùm của âm phủ ngay lập tức. Sự sống lại của các vị thánh này là “dấu hiệu” đầu tiên cho chiến thắng khải hoàn của Đức Kitô.
c. “Hai chứng nhân” trong Sách Khải Huyền (Kh 11, 1-12)
Thánh Gioan mô tả về hai vị ngôn sứ của Thiên Chúa bị Con Thú giết chết, xác họ nằm phơi trên đường phố trong ba ngày rưỡi.
Sau thời gian đó, “sinh khí từ Thiên Chúa nhập vào họ, họ đứng thẳng lên... và họ lên trời trong đám mây”.
Đây là biểu tượng cho Giáo Hội. Dù Giáo Hội có bị bách hại hay dường như “đã chết” dưới tay thế gian, thì Thần khí Thiên Chúa vẫn sẽ làm cho Giáo Hội sống lại và chiến thắng.
5. Những Người Không Chết
Thánh Kinh còn nhắc đến 2 trường hợp đặc biệt “không nếm mùi cái chết mà được đưa đi”. Đó là ông Hênóc và ngôn sứ Êlia.
a. Khanốc: Người bộ hành cùng Thiên Chúa (St 5, 21-24)
Khanốc là nhân vật bí ẩn nhất trong dòng dõi Ađam.
Sách Sáng thế ghi lại như sau: “Sau khi đi với Thiên Chúa, ông không còn nữa, vì Thiên Chúa đã đem ông đi” (St 5, 24).
Trong khi tất cả các tổ phụ khác trong chương 5 sách Sáng Thế đều kết thúc bằng cụm từ “rồi ông qua đời”, thì riêng Khanốc lại “không còn nữa”.
Trong Thư gởi tín hữu Do thái có đoạn viết như sau: “Nhờ đức tin, ông Kha-nốc được đem đi nơi khác để khỏi chết, và người ta không tìm thấy ông nữa, bởi vì Thiên Chúa đã đem ông đi. Quả thật, Kinh Thánh chứng nhận rằng: trước khi được đem đi, ông đã làm đẹp lòng Thiên Chúa. Mà không có đức tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa, thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người” (Dt 11, 5-6).
Khanốc được coi là biểu tượng của sự công chính tuyệt đối. Ông không phải đi ngang qua cái chết mà được Thiên Chúa “nhấc bổng” vào cõi vĩnh hằng vì sự hiệp thông trọn vẹn của ông với Ngài ngay khi còn sống.
b. Ngôn sứ Êlia và Cỗ xe rực lửa (2 Vua 2, 1-12)
Đây là một trong những cảnh tượng hùng tráng nhất trong Cựu Ước.
Khi ngôn sứ Êlia và môn đệ Êlisa đang đi bộ bên sông Giođan, một cỗ xe lửa và ngựa lửa xuất hiện, tách hai người ra.
Ngôn sứ Êlia lên trời trong một cơn gió lốc. Êlisa nhìn theo và kêu lên: “Cha ơi, cha ơi! Xe chiến mã của Ítraen!”
Việc ngôn sứ Êlia không chết mà được đưa đi củng cố niềm tin rằng ngài vẫn đang sống để thực hiện sứ mạng dọn đường cho Đấng Thiên Sai. Đó là lý do tại sao người Do Thái luôn mong đợi Êlia tái hiện, và ngài đã xuất hiện bên cạnh Chúa Giêsu trong cuộc Hiển Dung trên núi Tabo.
VII. TRONG DÒNG LỊCH SỬ CỦA GIÁO HỘI
Trong lịch sử Giáo Hội, Thiên Chúa đã ban quyền năng làm phép lạ cho nhiều vị thánh, trong đó có phép lạ làm cho người chết sống lại. Đây là minh chứng cho thấy sự sống của Đức Kitô Phục Sinh tiếp tục chảy tràn qua các môn đệ của Ngài.
Dầu không được ghi lại trong Thánh Kinh Tân Ước, nhưng các tông đồ Gioan và Anrê, theo truyền thống, đã làm cho người chết sống lại. Sau đây là một số trường hợp nổi tiếng thường được nhắc lại trong lịch sử Giáo Hội.
1. Thánh Gioan Tông đồ (6-100)
Các câu chuyện về thánh Gioan được ghi trong một tác phẩm cổ gọi là Công vụ Gioan (khoảng thế kỷ II). Trong đó có kể một câu chuyện khá nổi tiếng về nàng Drusiana.
Một phụ nữ tên là Drusiana, người sống rất thánh thiện, đã qua đời. Thánh Gioan đến cầu nguyện bên mộ. Ngài kêu cầu danh Chúa Kitô và người phụ nữ sống lại. Không dừng lại ở đó, câu chuyện còn kể rằng, có một người đàn ông đã phạm tội nặng liên quan đến bà và sau đó, cũng được cho sống lại để ăn năn sám hối.
Ý nghĩa của câu chuyện không chỉ là phép lạ, mà là quyền năng của Chúa Kitô và lòng thương xót dẫn đến hoán cải.
2. Thánh Anrê Tông đồ (5-60)
Các truyền thống về thánh Anrê được ghi trong Công vụ Anrê (thế kỷ II–III). Trong số các phép lạ, truyền thống kể câu chuyện tiêu biểu về một người trẻ qua đời. Một người trẻ qua đời, gia đình đau khổ cầu xin thánh Anrê. Ngài cầu nguyện nhân danh Chúa Giêsu. Người chết được sống lại.
Một số bản khác còn kể rằng phép lạ xảy ra trong bối cảnh truyền giáo và đã khiến nhiều người tin theo Chúa Kitô.
3. Thánh Martin Thành Tours (316-397)
Martin thành Tours là một trong những vị thánh đầu tiên ở Tây Âu nổi tiếng về các phép lạ.
Theo hạnh thánh do Sulpicius Severus ghi lại, thánh Martin đã cầu nguyện cho một dự tòng đã chết và người đó sống lại.
Phép lạ này làm nhiều người tin vào Kitô giáo.
4.Thánh Antôn Pađôva (1195–1231)
Thánh Antôn là một trong những vị thánh nổi tiếng nhất với các phép lạ. Các tài liệu ghi lại rằng ngài đã làm cho một số người chết sống lại. Điển hình là chuyện Cậu bé bị chết đuối và Người thanh niên đâm mẹ.
- Một cậu bé trong vùng lân cận rơi xuống nước và chết. Mẹ cậu đã khóc lóc cầu xin Thánh Antôn. Ngài đã cầu nguyện và đứa trẻ được sống lại.
- Một thanh niên thú nhận với Thánh Antôn rằng mình đã giết mẹ. Khi đến nhà nạn nhân, Thánh Antôn đã cầu nguyện và người mẹ sống lại, tha thứ cho con trai mình.
5. Thánh Vinh Sơn Phêriê (1350–1419)
Thánh Vinh-sơn là một nhà giảng thuyết vĩ đại. Truyền thống cho biết ngài đã thực hiện rất nhiều phép lạ trong những chuyến đi rao giảng khắp châu Âu. Ngài từng làm cho một người vừa bị xử tử sống lại để làm chứng cho sự thật về những lời ngài rao giảng.
Những phép lạ của ngài thường mang tính “mục vụ”, để hoán cải lòng người và củng cố đức tin cho những đám đông hoài nghi.
6. Thánh Phanxicô Xaviê (1506–1552)
Vị thánh truyền giáo vĩ đại ở châu Á cũng được ghi nhận làm phép lạ cho người chết sống lại trong hành trình truyền giáo.
Tại vùng Travancore (Ấn Độ), ngài được thuật lại là đã cầu nguyện và làm cho một đứa trẻ vừa mới chết được sống lại.
Tại Nhật Bản, cũng có những tài liệu cổ truyền lại rằng ngài đã cầu nguyện cho một người phụ nữ vừa qua đời được sống lại để chịu phép Rửa Tội trước khi thực sự trở về với Chúa.
7. Thánh Gioan Bốtcô (1815–1888)
Thánh Gioan Bốtcô, người cha của giới trẻ, cũng có những trải nghiệm lạ thường. Có lần, ngài kể lại trường hợp một cậu bé đã chết mà chưa được xưng tội. Cha Bốtcô đã đến, cầu nguyện, và cậu bé đã tỉnh lại đủ lâu để xưng tội với ngài, sau đó mới qua đời trong bình an.
8. Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes, 1591-1660)
Trong các cuốn sách của Cha Đắc Lộ như “Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài” (Histoire du Royaume de Tunquin) hay “Hành trình và truyền giáo” (Divers Voyages), ngài đã ghi chép lại nhiều sự kiện kỳ lạ, những ơn chữa lành, và cả những dấu lạ điềm thiêng, mà ngài cùng các tín hữu thời đó tin là sự can thiệp trực tiếp của Thiên Chúa, thông qua lời cầu nguyện, như một cách để chứng minh rằng Thiên Chúa đang bảo vệ và đồng hành với công cuộc loan báo Tin Mừng tại một vùng đất mới đầy khắc nghiệt và cấm cách.
Theo các sách về lịch sử truyền giáo Việt Nam, câu chuyện phép lạ diễn ra như sau: Một gia đình lương dân có đứa trẻ vừa qua đời (Có thể đang hôn mê!). Họ nghe nói các thừa sai rao giảng về Thiên Chúa quyền năng. Vì tuyệt vọng, họ đem đứa trẻ đến xin vị thừa sai cầu nguyện.
Vị thừa sai (truyền thống thường gắn cho cha Alexandre de Rhodes) đã đặt đứa trẻ trước Thánh Giá, cầu nguyện tha thiết, xin Thiên Chúa tỏ quyền năng và xin cho gia đình nhận biết Tin Mừng.
Rồi đứa trẻ bắt đầu cử động và sống lại.
Sau biến cố này gia đình xin chịu phép Rửa Tội, nhiều người trong làng xin học đạo và cộng đoàn Kitô hữu gia tăng nhanh chóng.
Những câu chuyện như vậy thường được kể để diễn tả rằng Thiên Chúa xác nhận việc rao giảng Tin Mừng bằng các dấu lạ.
9. Cây Thánh Giá Của Chúa Kitô
Trong truyền thống Kitô giáo, câu chuyện Thánh nữ Helena tìm thấy Thánh Giá thật là một chủ đề thú vị dẫu có nhiều dị bản. Câu chuyện được ghi chép trong tác phẩm Golden Legend (Truyền thuyết vàng) của Jacobus de Voragine (thế kỷ XIII) như sau: Khi Thánh nữ Helena tìm thấy ba cây thập giá tại Giêrusalem, bà không biết cây nào là của Chúa Giêsu. Vào đúng lúc đó, người ta đang mang xác của một thanh niên qua đời đi chôn cất. Theo gợi ý của Giám mục Macarius của Giêrusalem, họ đã đặt lần lượt từng cây thập giá lên xác người thanh niên đó.
Khi đặt cây thập giá thứ ba lên, ngay lập tức xác chết đã sống lại, từ đó xác nhận đó chính là Thánh Giá thật của Chúa.
Qua những câu chuyện này, truyền thống Kitô giáo muốn nhấn mạnh: - Cây gỗ mà Chúa Giêsu chịu đóng đinh không chỉ là một vật thể lịch sử mà còn chứa đựng quyền năng của Đấng Phục Sinh, có khả năng ban sự sống và chữa lành.
- Việc tìm thấy Thánh Giá không phải là sự tình cờ của con người, mà là một sự mạc khải, một dấu chỉ mà Thiên Chúa ban cho để người tín hữu có thể tôn kính “thánh tích” cứu độ của Ngài.
Hiện nay, Giáo Hội Công giáo tôn kính việc tìm thấy Thánh Giá như một biến cố lịch sử quan trọng đánh dấu sự tự do của Kitô giáo dưới thời Hoàng đế Constantine, còn các chi tiết về phép lạ thường được hiểu là cách diễn đạt đức tin của người xưa về sự thiêng liêng của di tích này.
VIII. ĐỨC MARIA
Về Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Giáo Hội có một xác tín rõ ràng, nhưng cũng để lại một khoảng mở về chi tiết.
1. Tín Điều Của Giáo Hội
Năm 1950, Thông diệp Munificentissimus Deus của Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố tín điều: Đức Maria, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế, đã được đưa lên trời cả hồn lẫn xác.
Điểm rất quan trọng là Giáo Hội không xác định rõ Đức Maria có chết hay không trước khi được đưa lên trời.
2. Hai Truyền Thống Trong Giáo Hội
a. Truyền thống Đức Maria có chết (Dormition)
Trong truyền thống lâu đời, đặc biệt ở Đông phương, có lễ “An nghỉ” của Đức Mẹ (Dormition of the Theotokos).
Theo đó Đức Maria thực sự trải qua cái chết, nhưng cái chết ấy êm ái như giấc ngủ và sau đó được Thiên Chúa đưa lên trời.
Nhiều thánh và giáo phụ ủng hộ quan điểm này, như thánh Gioan Đamát, thánh Grêgôriô thành Tours.
Đây là quan điểm phổ biến nhất trong truyền thống. b. Truyền thống Đức Maria không chết
Một số nhà thần học Tây phương cho rằng Đức Maria không mắc tội nguyên tổ, mà cái chết là hậu quả của tội nên Mẹ không cần phải chết.
Theo hướng này Mẹ được đưa lên trời trực tiếp, giống như ông Khanốc và ngôn sứ Êlia.
Tuy nhiên, quan điểm này ít phổ biến hơn.
3. Giáo Hội Nói Gì?
Giáo Hội cố ý dùng cách nói rất thận trọng “Sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế…” Điều này có nghĩa Giáo Hội không buộc tín hữu phải tin rằng Đức Maria đã chết cũng không buộc phải tin là Mẹ không chết. Nhưng vẫn giữ điểm chắc chắn là Mẹ được đưa lên trời cả hồn lẫn xác.
Dù theo cách hiểu nào, điều quan trọng không nằm ở việc Mẹ có chết hay không, mà ở chỗ Đức Maria là hoa trái đầu mùa của ơn cứu độ do Chúa Giêsu Kitô mang lại. Mẹ đã hoàn toàn thuộc về Chúa nên cũng được chia sẻ trọn vẹn vinh quang của Chúa. Tín điều Đức Mẹ lên trời cho chúng ta niềm hy vọng thân xác con người không bị bỏ rơi nhưng được gọi vào vinh quang đời đời.