Lúc 08g00, từ lời giới thiệu của MC Như Yến, các tham dự viên hân hoan chào đón nồng nhiệt sự hiện diện của:
- Đức Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế Giuse Đặng Đức Ngân, Chủ tịch Ủy ban Văn hóa, trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam;
- Đức Giám mục phụ tá Tổng Giáo phận Sài Gòn Gioan Baotixita Nguyễn Quang Tuyến;
- Đức ông Phêrô Nguyễn Chí Thiết;
- Cha Giuse Trần Sĩ Tín CSsR, Thừa sai của anh chị em dân tộc Jrai;
- Cha Giuse Trương Đình Hiền, Tổng Đại diện Giáo phận Qui Nhơn;
- Thầy Michel Nguyễn Hạnh, Giảng viên văn hóa tại Học viện Công giáo Việt Nam và Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn;
- Thầy Nguyễn Ngọc Quận, Giảng viên bộ môn Hán Nôm, Trường Đại Học KHXH&NV ĐHQG – HCM;
- Cha Giuse Nguyễn Văn Đại, OP, Thạc sĩ Hán Nôm;
- Cùng sự hiện diện của khoảng 220 tham dự viên, gồm quý linh mục đặc trách văn hóa các giáo phận, quý tu sĩ nam nữ, các học giả, nhà nghiên cứu, cùng toàn thể cộng đoàn là những người quan tâm đến lịch sử, văn hóa và di sản Công giáo tại Việt Nam.

I. KHAI MẠC
Lúc 08g00, Đức Tổng Giám mục (TGM) Giuse Đặng Đức Ngân đã khai mạc và thánh hóa chương trình.
Trong bầu khí trang trọng và đầy ý nghĩa hôm nay, Đức TGM Giuse bày tỏ niềm vui mừng và lời chào đến toàn thể các tham dự viên của hội thảo chuyên đề “Di sản văn hóa của các thừa sai Công giáo tại Việt Nam - Hướng tới kỷ niệm 400 năm Tin mừng đến Cửa Bạng, miền Bắc Việt Nam”.
Trước hết, ngài chân thành cảm ơn sự hiện diện và những đóng góp quý báu của các tham dự viên vào việc tổ chức hội thảo này. Và ngài có lời phát biểu khai mạc như sau:

“Bốn trăm năm là một chặng đường dài trong lịch sử của một vùng đất, một dân tộc và một cộng đồng đức tin. Nhắc đến Cửa Bạng, chúng ta nhớ đến những bước đầu của công cuộc loan báo Tin mừng tại miền Bắc Việt Nam, đồng thời nhớ đến hành trình gặp gỡ giữa Tin mừng và văn hóa Việt Nam, giữa các nhà truyền giáo và một dân tộc giàu truyền thống văn hóa, tín ngưỡng, đạo lý và lòng hiếu khách.
Lịch sử truyền giáo không chỉ là câu chuyện về những con người và biến cố, mà còn là hành trình gặp gỡ, tiếp nhận và giao lưu văn hóa. Các thừa sai Công giáo đã để lại những dấu ấn trên nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ, chữ viết, văn chương, giáo dục, kiến trúc, nghệ thuật, âm nhạc và đời sống cộng đồng, góp phần hình thành những phương thức diễn đạt đức tin trong môi trường văn hóa Việt Nam.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu di sản ấy cần được thực hiện bằng cái nhìn lịch sử khách quan, toàn diện và quân bình; vừa trân trọng những đóng góp tích cực, vừa đặt các sự kiện trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Tinh thần khoa học, trung thực và cởi mở sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn những giá trị, thách đố và giới hạn của hành trình gặp gỡ văn hóa này.
Hội thảo hôm nay không chỉ nhằm nhìn lại quá khứ, mà còn hướng đến hiện tại và tương lai của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam cũng như của xã hội Việt Nam. Đây là dịp để nhìn lại hành trình đón nhận và hội nhập Tin mừng vào lòng dân tộc, nhận diện những giá trị cần gìn giữ, những kinh nghiệm cần tiếp nối và những bài học cần suy tư cho sứ mạng loan báo Tin mừng hôm nay.
Đồng thời, hội thảo tạo cơ hội để các nhà nghiên cứu trao đổi tư liệu, phương pháp và nhận định chuyên môn, góp phần làm sáng tỏ lịch sử giao lưu văn hóa, lịch sử tôn giáo và tiến trình hình thành các giá trị văn hóa Việt Nam. Qua đó, mỗi người được mời gọi gặp gỡ quá khứ bằng sự tôn trọng, đối thoại với hiện tại bằng tinh thần cởi mở và hướng đến tương lai với trách nhiệm bảo tồn, phát huy di sản cho các thế hệ mai sau.
Tôi mong rằng hội thảo sẽ trở thành một diễn đàn học thuật nghiêm túc, một không gian trao đổi chân thành và một nhịp cầu nối kết đức tin, lịch sử với văn hóa. Những tham luận và trao đổi hôm nay hy vọng sẽ góp phần nâng cao nhận thức về di sản của các thừa sai Công giáo, thúc đẩy việc bảo tồn tư liệu, gìn giữ di tích, phát huy các giá trị văn hóa và xây dựng sự hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng trong xã hội Việt Nam.
Hướng tới kỷ niệm 400 năm Tin mừng đến Cửa Bạng (thuộc Thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa), chúng ta được mời gọi nhìn về quá khứ với lòng biết ơn, nghiên cứu lịch sử bằng tinh thần trung thực và bước vào tương lai với niềm hy vọng. Di sản chỉ thực sự sống động khi được hiểu biết đúng đắn, gìn giữ có trách nhiệm và trao truyền bằng tinh thần đối thoại, tôn trọng con người và phục vụ lợi ích chung.”
Với những ý nghĩa đó, Đức TGM Giuse tuyên bố khai mạc Hội thảo chuyên đề “Di sản văn hóa của các thừa sai Công giáo tại Việt Nam – Hướng tới kỷ niệm 400 năm Tin mừng đến Cửa Bạng, miền Bắc Việt Nam”.
II. THUYẾT TRÌNH
Có bốn bài thuyết trình lần lượt được các học giả trình bày.
Thuyết trình 1 - “Dân tộc học và di sản của các thừa sai”, do Cha Giuse Trần Sĩ Tín trình bày.

Cha Giuse Trần Sĩ Tín bắt đầu với một bài hát được sáng tác bởi một tân tòng người Jrai:
Con kêu đến Ngài Thần Khí Đức Chúa Trời,
Canh tân tấm lòng thương con xin Ngài hãy đến
Con kêu đến Ngài Thần Khí của Ngôi Lời,
Xin thương chỉ dạy, mau mau xin Ngài hãy đến.
Cho con đức tin… cho con yêu mến Ngài trọn tâm hồn
Cho con reo vang Tin mừng: Giêsu Kitô là Đức Chúa, Đấng tử nạn mà nay Phục sinh.
Bài hát mang âm sắc đặc trưng của văn hóa người dân tộc Jrai, khi được cất lên làm rung động biết bao con tim người nghe, và cả vùng núi đại ngàn Kon Tum - nơi mà Cha Giuse Trần Sĩ Tín đã được trao sứ mạng Thừa sai đồng hành cùng dân tộc Jrai suốt 57 năm qua. Chính vì vậy khi trình bày đề tài: “Dân tộc học và di sản của các thừa sai”; bao ký ức ùa về với những tên tuổi các thừa sai lừng danh như: Thánh Phanxicô Xaviê, Cha Alexandre de Rhodes (1591) và các bạn của ngài, Cha Léopold Michel Cadière – (Nhà sử học, ngôn ngữ học và nhân chủng học), Thánh Stêphanô Cuênôt Thể cùng các vị mà ngài sai đến Kon Tum từ 1848: Thầy Sáu Do, Cha Dourisboure, Cha Jacques Dournes (nghiên cứu chùa chiền, am miếu)…
Vị thừa sai đáng kính, Cha Alexandre de Rhodes, là người đã có ơn lớn trong lịch sử phát triển văn hóa và đức tin Công giáo Việt Nam. Cha là người chứng kiến vị tử đạo đầu tiên của Công giáo Việt Nam năm 1644 - Giáo lý viên Anrê Phú Yên, lúc 19 tuổi bị chặt đầu; và cha đã mang đầu của vị này về Rôma.
Ngoài ra còn phải kể đến là các vị thừa sai Hải ngoại Paris (1662 và 1664) như Giám mục Francois Pallu và Pierre Lambert de la Motte.
Còn kể đến MONITA AD MISSIONARIOS – Nhắn nhủ các nhà thừa sai – Công đồng YUTHIA 1664, do Thánh bộ Propaganda Fide xuất bản năm 1669.
Nhiều vị được nói đến đã có nhiều ấn phẩm về những nghiên cứu người Việt, về người Jrai; mục đích không chỉ giới thiệu họ, mà còn là cách bênh vực nhóm thiểu số độc đáo và bị đánh giá thấp. Cha Jacques Dournes, Nhà thừa sai đã tìm cách đụng chạm đến tâm hồn của dân tộc bằng cách nói ngôn ngữ mà dân tộc đó hiểu được. Cha nói: “Không thể sống với những con người mà không nói tiếng nói của họ”; Cha đã trở nên nhà dân tộc học vì tôn trọng các dân tộc đã đón nhận cha.
Bí tích tế lễ tạ ơn Thánh Thể
Người Jrai có nhiều nghi lễ kết nghĩa như: kết nghĩa bằng hữu, anh em, cha/mẹ con; họ kết ước bằng rượu trộn ít thịt sống và huyết con vật bị tế sát. Cũng trong văn hóa này, đặc biệt về Phụng vụ gia nhập đạo Công giáo, người Jrai dễ dàng tin rằng Thánh Thể chính là máu thịt Chúa và là Giao ước.
2. Thuyết trình 2 - “Chi tiết kiến trúc nhà thờ Việt Nam, dòng mạch và biểu tượng”, do Thầy Michel Nguyễn Hạnh trình bày
Nhà thờ không chỉ là công trình xây dựng, nó đồng thời là một chỉnh thể kiến trúc, một không gian phụng tự, một phần ký ức của cộng đoàn và một dấu chỉ của đức tin. Từ cách tiếp cận ấy, việc khảo sát nhà thờ Việt Nam có thể được triển khai trên hai bình diện:
- Các dòng mạch trong kiến trúc nhà thờ Việt Nam – trả lời câu hỏi “Đó là gì?”
- Ngôn ngữ biểu tượng trong kiến trúc nhà thờ Việt Nam – hướng đến câu hỏi “Nó có ý nghĩa gì?”
Cụm từ "dòng mạch" dùng để chỉ sự kế thừa từ các dòng chảy kiến trúc cổ điển phương Tây (như Romanesque, Gothic, Phục hưng, Baroque) cho đến sự hòa quyện với các yếu tố văn hóa, bản sắc kiến trúc bản địa (ví dụ: kiến trúc cộng sinh Đông - Tây như tại một số thánh đường lâu đời ở Việt Nam). Nó thể hiện cách con người gửi gắm niềm tin, trật tự và ánh sáng qua kết cấu gạch, đá, vòm cao và kính màu.

Các dòng mạch trong kiến trúc nhà thờ Việt Nam
Trong kiến trúc nhà thờ Việt Nam có nhiều dòng mạch kiến trúc như: Dòng mạch Cổ điển, Romanesque, Gothic, Baroque, Đông Dương, hiện đại.
Một ngôi nhà thờ có thể tập hợp nhiều dòng mạch kiến trúc trong các phần của ngôi nhà thờ, ví dụ như đỉnh chóp, mái, trong nội thất nhà thờ...
Nhà thờ Việt Nam cũng không phải là một bản sao thu nhỏ của nhà thờ châu Âu
Quá trình hội nhập văn hóa trong kiến trúc nhà thờ Việt Nam có thể khái quát qua ba động thái: bảo tồn, giản lược và Việt hóa.
Bảo tồn những yếu tố thiết yếu gắn với căn tính và chức năng phụng vụ như thánh giá, bàn thờ, cung thánh và không gian quy tụ cộng đoàn; giản lược những hình thức không phù hợp với vật liệu, kỹ thuật, kinh tế và khí hậu địa phương; Việt hóa để công trình bén rễ trong môi trường tự nhiên, văn hóa và đời sống người Việt. Việt hóa không chỉ là vay mượn họa tiết như rồng, hoa sen hay mái đền, mà còn thể hiện qua hệ mái, sân hiên, vật liệu, cây xanh, khí hậu, cách tổ chức không gian và ký ức cộng đồng. Vì thế, giá trị của nhà thờ không nằm ở mức độ giống kiến trúc châu Âu hay số lượng họa tiết Việt Nam, mà ở khả năng diễn tả đức tin Công giáo bằng ngôn ngữ văn hóa của địa phương.
Ngôn ngữ biểu tượng trong kiến trúc nhà thờ Việt Nam
Ngôn ngữ biểu tượng của kiến trúc nhà thờ được bộc lộ qua hành trình từ mái, tháp chuông, mặt tiền, cửa, cột, ánh sáng và không gian cộng đoàn đến cung thánh. Những thành phần ấy không chỉ tạo nên hình thức kiến trúc mà còn chuyển tải các ý nghĩa văn hóa và tôn giáo.
- Nhà thờ Phát Diệm cho thấy khả năng chuyển hóa kiến trúc truyền thống Việt Nam vào không gian Công giáo;
- Nhà thờ Đa Minh Ba Chuông thể hiện bản sắc Việt qua tam quan, lầu chuông, hệ mái và cách tổ chức không gian;
- Nhà thờ Cam Ly và Ca Đơn cho thấy sự đối thoại giữa đức tin với văn hóa bản địa, địa hình, vật liệu và thiên nhiên.
- Trường hợp nhà thờ La Dậy gợi mở nguyên tắc quan trọng: biểu tượng bản địa chỉ thực sự hòa nhập khi được đặt đúng vị trí và ý nghĩa trong trật tự thần học, phụng vụ và đời sống cộng đoàn; thánh giá và bàn thờ vẫn giữ vị trí trung tâm của không gian Kitô giáo.
Từ “Nhìn” đến “Đọc”
Để đọc hiểu kiến trúc nhà thờ, có thể vận dụng ba cách nhìn: nhục nhãn, tâm nhãn và thần nhãn.
- Nhục nhãn nhận biết hình thể, kết cấu và vật liệu;
- Tâm nhãn khám phá ký ức, văn hóa và những lớp nghĩa ẩn sau hình thức;
- Thần nhãn hướng con người từ cái hữu hình đến mầu nhiệm vô hình.
Ba cách nhìn bổ sung cho nhau, giúp việc quan sát vượt khỏi nhận diện hình thức để đạt tới sự hiểu biết văn hóa và cảm nghiệm đức tin.
Kết luận
Kiến trúc nhà thờ Việt Nam là một bản văn được viết bằng nhiều ngôn ngữ: Roman, Gothic, Baroque, kiến trúc hiện đại, cùng những yếu tố của đình, phương đình, nhà rường, gỗ, gạch, ngói, chữ Hán, chữ Nôm và tiếng Việt. Sự phong phú ấy cho thấy đức tin không phải một hình thức bất động, nhưng luôn đi vào lịch sử, gặp gỡ văn hóa và tìm kiếm cách diễn tả thích hợp trong từng thời đại. Mái, tháp, cửa, cột, ánh sáng, hoa văn và vật liệu chỉ thực sự tạo nên ý nghĩa khi cùng hướng về một trung tâm là Đức Kitô và đời sống phụng vụ của cộng đoàn.
Vì thế, giá trị sâu xa của một nhà thờ không nằm chủ yếu ở quy mô, mức độ trang trí hay danh tiếng của phong cách kiến trúc, mà ở khả năng dẫn con người từ hình thức đến ý nghĩa, từ văn hóa đến đức tin, từ cá nhân đến cộng đoàn và từ cái hữu hình đến mầu nhiệm thiêng liêng. Khi công trình trở thành nơi quy tụ, cầu nguyện và cử hành đức tin, kiến trúc không chỉ được xây dựng mà còn trở thành lời chứng; nhà thờ không chỉ được nhìn thấy mà còn được đọc, được sống và được tiếp nối qua các thế hệ. Đó cũng là lời mời gọi con người đón nhận ánh sáng, trở nên những viên đá sống động của Hội thánh và để đức tin cất tiếng bằng chính ngôn ngữ văn hóa của vùng đất mình đang sống.
3. Thuyết trình 3 - “Di sản văn hóa của các thừa sai Công giáo trong lịch sử truyền giáo tại Việt Nam”, do Cha Giuse Trương Đình Hiền trình bày.
Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam – một dòng chảy thừa sai liên tục
Trong lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, Giáo phận Qui Nhơn có vị trí đặc biệt vì kế thừa trực tiếp Giáo phận Đàng Trong được Tòa thánh thiết lập năm 1659. Qua các giai đoạn lịch sử, nhiều giáo phận khác lần lượt được hình thành từ địa phận này, như Huế, Kon Tum, Nha Trang và Đà Nẵng. Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của Giáo phận Qui Nhơn trong tiến trình phát triển của Giáo hội Việt Nam.
Khi nghiên cứu di sản của các thừa sai, cần xác định đúng ý nghĩa của thuật ngữ thừa sai. Thừa sai không chỉ là những nhà truyền giáo ngoại quốc đến Việt Nam loan báo Tin mừng, nhưng còn bao gồm tất cả những người được sai đi thi hành sứ mạng của Đức Kitô, trong đó có hàng giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân Việt Nam. Sứ mạng ấy bắt nguồn từ chính Chúa Cha đã sai Chúa Giêsu, Chúa Giêsu sai các tông đồ và tiếp nối qua các thế hệ trong lịch sử Giáo hội.
“Như Cha sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20, 21)

Trước năm 1659, các thừa sai thuộc nhiều dòng tu đã hiện diện và hoạt động tại Việt Nam, tiêu biểu là các dòng Đa Minh, Phanxicô, Augustinô và đặc biệt là dòng Tên. Từ năm 1615, các thừa sai Dòng Tên đã thiết lập những cơ sở truyền giáo tại Đàng Trong, góp phần mở rộng việc loan báo Tin mừng và để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực ngôn ngữ, văn hóa và tổ chức truyền giáo.
Năm 1659 đánh dấu bước ngoặt quan trọng khi Tòa thánh thiết lập hai giáo phận tông tòa đầu tiên tại Đại Việt và trao trách nhiệm điều hành cho các giám mục thuộc Hội Thừa sai Paris. Bên cạnh các thừa sai ngoại quốc, Hội Thầy giảng, các nữ tu Mến Thánh giá, hàng giáo sĩ bản địa và giáo dân Việt Nam đã tích cực cộng tác, tiếp nối và phát triển sứ mạng truyền giáo. Những nhân vật như Linh mục Lữ Y Đoan, Linh mục Philipphê Bỉnh, Linh mục Philipphê Phan Văn Minh và các trí thức Công giáo như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký đã góp phần quan trọng vào đời sống văn hóa và tri thức của dân tộc.
Vì thế, lịch sử truyền giáo tại Việt Nam không đơn thuần là câu chuyện của một số nhà truyền giáo ngoại quốc hay bản ghi chép các biến cố mục vụ, nhưng là dòng chảy liên tục của sứ mạng loan báo Tin mừng, được tiếp nối qua nhiều thế hệ và ngày càng mang khuôn mặt bản địa.
2. Di sản văn hóa của các thừa sai trong việc xây dựng con người
Di sản văn hóa của các thừa sai cần được nhìn nhận không chỉ qua các công trình vật chất, nhưng trước hết qua những đóng góp giúp nâng cao phẩm giá con người, phát triển đời sống đức tin và xây dựng cộng đồng. Có thể khái quát thành năm phương diện chính.
Thứ nhất, di sản về ngôn ngữ và chữ viết
Các thừa sai Công giáo đã đóng góp đáng kể vào quá trình hình thành, phát triển chữ Quốc ngữ, biên soạn từ điển, dịch thuật và nghiên cứu ngôn ngữ. Những công trình gắn với Alexandre de Rhodes, Francisco de Pina và nhiều thừa sai khác đã tạo nền tảng cho việc truyền đạt đức tin, phổ biến tri thức và phát triển văn hóa Việt Nam. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu ngôn ngữ của những dân tộc Tây Nguyên, như Ba Na, Gia Rai, Xơ Đăng và các ngôn ngữ bản địa khác, cũng có giá trị quan trọng. Những nghiên cứu về ngôn ngữ Champa tiếp tục thể hiện sự quan tâm của các thừa sai đối với văn hóa và đời sống của các dân tộc.
Thứ hai, di sản về giáo dục và đào tạo
Truyền giáo luôn gắn liền với giáo dục, bởi việc loan báo Tin mừng hướng đến sự phát triển toàn diện con người theo hình ảnh Đức Kitô. Các lớp giáo lý, trường học, chủng viện, cơ sở đào tạo thầy giảng và các trung tâm giáo dục đã góp phần hình thành nhân bản, tri thức và đời sống đạo đức. Mỗi truyền thống tu trì mang đến những phương thức giáo dục riêng: Dòng Tên chú trọng đào luyện toàn diện; Dòng Đa Minh kết hợp tri thức với đức tin; Dòng La San quan tâm đến giáo dục, nhất là người nghèo; Dòng Don Bosco chú trọng giáo dục nghề nghiệp và giới trẻ bị bỏ rơi. Các dòng nữ cũng có những đóng góp đáng kể trong giáo dục, đào tạo phụ nữ và chăm sóc trẻ em. Những di sản này tiếp tục đặt ra lời mời gọi phát huy giáo dục Công giáo trong điều kiện xã hội hiện nay.
Thứ ba, di sản về đời sống nội tâm và cầu nguyện
Đây là nền tảng thiêng liêng nâng đỡ mọi hoạt động truyền giáo và phục vụ. Qua phụng vụ, kinh nguyện và các linh đạo tu trì, các thừa sai đã góp phần hình thành đời sống cầu nguyện sâu sắc trong cộng đồng tín hữu Việt Nam. Linh đạo Dòng Tên với Linh thao, Linh đạo Phanxicô, truyền thống chiêm niệm của các đan viện, đời sống cầu nguyện và lao động của Dòng Biển Đức, Dòng Xitô, Linh đạo Cát Minh và Linh đạo Mến Thánh giá đã làm phong phú đời sống thiêng liêng của Giáo hội. Sự hiện diện của đời sống đan tu tại Việt Nam cũng góp phần khẳng định giá trị của thinh lặng, chiêm niệm và kết hiệp với Thiên Chúa. Trong bối cảnh xã hội đề cao hiệu quả và hưởng thụ, di sản nội tâm này càng cần thiết để bảo đảm chiều sâu thiêng liêng cho đời sống cá nhân và cộng đoàn.
Thứ tư, di sản về bác ái và phục vụ
Tình yêu thương, theo gương Đức Kitô, là linh hồn của sứ mạng truyền giáo. Các dòng tu, đặc biệt là Dòng Mến Thánh giá, các dòng Phanxicô Thừa sai Đức Mẹ, các nữ tu Bác ái Vinh Sơn và nhiều hội dòng khác, đã dấn thân phục vụ người nghèo, người bệnh, trẻ em mồ côi, người khuyết tật và những người bị gạt ra bên lề xã hội. Các bệnh viện, bệnh xá, cô nhi viện, mái ấm, nhà dưỡng lão và cơ sở chăm sóc người mắc bệnh phong là những dấu chỉ hữu hình của nền văn hóa bác ái. Di sản ấy góp phần xây dựng văn hóa liên đới, chia sẻ, bảo vệ sự sống, tôn trọng phẩm giá con người và phục vụ công ích.
Thứ năm, di sản về lòng bao dung và chứng tá đức tin
Chứng từ của các thánh tử đạo Việt Nam cho thấy đức tin Kitô giáo không nuôi dưỡng hận thù, nhưng mời gọi yêu thương, tha thứ và trung thành với Tin mừng. Chính đời sống và cái chết của các ngài đã làm sáng tỏ sức mạnh của tình yêu, đồng thời trở thành chứng tá thuyết phục về giá trị của Kitô giáo giữa lòng dân tộc.
3. Di sản văn hóa của các thừa sai trong việc kiến tạo xã hội
Bên cạnh việc xây dựng con người, các thừa sai còn góp phần tạo nên những giá trị văn hóa có sức lan tỏa trong đời sống xã hội. Có thể nhận diện năm phương diện nổi bật.
Thứ nhất, văn hóa phát triển cộng đồng
Các hoạt động truyền giáo gắn liền với việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, hình thành cộng đồng đức tin và xây dựng tinh thần tương trợ. Cơ cấu giáo xứ với nếp sống có tổ chức, tinh thần trách nhiệm và sự liên đới đã góp phần hình thành những mô hình cộng đồng có khả năng thúc đẩy phát triển xã hội.
Thứ hai, di sản nghệ thuật
Theo tinh thần via pulchritudinis – con đường của vẻ đẹp – nghệ thuật là phương thế diễn tả đức tin và loan báo Tin mừng. Kiến trúc nhà thờ, mỹ thuật, điêu khắc tượng thánh, tranh kính, nghệ thuật trang trí phụng vụ và âm nhạc Công giáo đã tạo nên những giá trị văn hóa đặc sắc. Trong quá trình hội nhập, các hình thức nghệ thuật Kitô giáo tiếp nhận và kết hợp với những yếu tố bản địa, góp phần làm phong phú đời sống nghệ thuật Việt Nam. Các ca đoàn và sinh hoạt phụng vụ cũng trở thành môi trường đào luyện nhiều người trong lĩnh vực âm nhạc.
Thứ ba, di sản xuất bản và truyền thông
Sự phát triển chữ Quốc ngữ tạo điều kiện cho hoạt động in ấn, xuất bản, báo chí và dịch thuật. Các nhà in, tờ báo Công giáo và những công trình chuyển ngữ đã góp phần phổ biến tri thức, phát triển ngôn ngữ và tạo điều kiện đối thoại giữa văn hóa Việt Nam với thế giới.
Thứ tư, di sản nghiên cứu và hội nhập văn hóa
Nhiều thừa sai đã nghiên cứu lịch sử, địa lý, khí hậu, phong tục, tập quán và ngôn ngữ của người Việt cũng như các dân tộc thiểu số. Những công trình của Alexandre de Rhodes, Cristoforo Borri, Léopold Cadière và các nhà nghiên cứu khác đã để lại nguồn tư liệu có giá trị đối với Việt Nam học. Các nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa bản địa không chỉ phục vụ công cuộc truyền giáo, mà còn góp phần lưu giữ tri thức và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các nền văn hóa.
Thứ năm, di sản kiến tạo văn minh đô thị
Sự hiện diện của các thừa sai, các cộng đồng tín hữu và những hoạt động giáo dục, xã hội, văn hóa đã góp phần hình thành và phát triển một số trung tâm dân cư. Trường hợp Kon Tum là một ví dụ được nhấn mạnh trong tham luận về vai trò của các thừa sai trong việc tổ chức cộng đồng và định hướng phát triển địa phương.
Kết luận
Di sản của các thừa sai Công giáo trong lịch sử truyền giáo tại Việt Nam không chỉ là những công trình vật chất, những cuốn sách, những trường học hay những nhà thờ, nhưng trước hết là tinh thần phục vụ con người bằng con đường văn hóa. Chính tinh thần ấy giúp cho Tin mừng bén rễ vào lòng dân tộc, đồng thời góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa Việt Nam. Cũng chính tinh thần ấy tiếp tục mời gọi các thế hệ hôm nay biết trân trọng quá khứ, dấn thân trong thực tại và cùng nhau xây dựng một tương lai, trong đó đức tin, văn hóa và sự phát triển luôn đồng hành vì phẩm giá con người và thiện ích của toàn xã hội.
Người Kitô hữu khi ý thức sứ mạng thừa sai của mình cũng là lúc biết phó thác mọi sự cho ân sủng của Thiên Chúa.
4. Thuyết trình 4 - “Di sản chữ Hán Nôm của các thừa sai Công giáo tại Việt Nam dưới góc nhìn chữ viết và ngôn ngữ học”, do Thầy Nguyễn Ngọc Quận và Cha Giuse Nguyễn Văn Đại trình bày.

Bối cảnh và hướng tiếp cận nghiên cứu
Thế kỷ XVII là giai đoạn quan trọng trong tiến trình giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây, gắn liền với hoạt động truyền giáo của các thừa sai Công giáo. Trong quá trình loan báo Tin mừng, các thừa sai đã học tiếng Việt, tiếp nhận chữ Nôm và sử dụng hệ thống văn tự này để biên soạn kinh sách, giáo lý cùng những tác phẩm phục vụ đời sống đức tin. Các văn bản Hán Nôm Công giáo vì thế không chỉ có giá trị tôn giáo mà còn lưu giữ những dấu tích quý báu về chữ viết, ngữ âm, từ vựng và quá trình hình thành thuật ngữ Công giáo bằng tiếng Việt.
Tuy nhiên, những tư liệu này vẫn cần được khai thác sâu hơn từ góc độ văn tự học và ngôn ngữ học lịch sử. Tham luận tập trung khảo sát văn bản Thiên Chúa Thánh Mẫu của Girolamo Mauretica, được biên soạn khoảng năm 1634–1635, nhằm làm rõ đặc điểm cấu tạo chữ Nôm, những dấu tích ngôn ngữ cổ và quá trình hình thành, lưu truyền từ ngữ Công giáo trong bối cảnh giao lưu văn hóa Việt Nam – phương Tây.
Tư liệu khảo sát gồm ba đoạn đầu của quyển Thượng, với 17 trang, 2.236 lượt chữ và 400 chữ Nôm khác nhau; đồng thời khảo sát từ ngữ Công giáo trong hai quyển Thượng và Trung, với 418 đơn vị được thống kê.
Chữ Nôm và quá trình tiếp nhận của các thừa sai Công giáo
Chữ Nôm hình thành trên cơ sở tiếp nhận và sáng tạo từ chất liệu chữ Hán trong tiến trình giao lưu lâu dài giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Hán. Từ giai đoạn Bắc thuộc đến khi giành được quyền tự chủ, người Việt vừa tiếp xúc với chữ Hán, vừa từng bước phát triển phương tiện ghi chép tiếng nói dân tộc. Từ thế kỷ X, chữ Nôm dần được sử dụng trong văn chương, văn bia, hành chính, khế ước và nhiều loại văn bản khác. Đến thế kỷ XVII, hệ thống chữ viết này đã đạt nền tảng cần thiết để được vận dụng vào hoạt động truyền giáo.
Dựa trên ba phương diện hình thể, âm và nghĩa, tham luận khái quát các phương thức cấu tạo chữ Nôm thành hai nhóm lớn với 16 tiểu loại: nhóm A gồm chữ Nôm vay mượn và nhóm B gồm chữ Nôm sáng tạo. Đây là hệ thống phân loại được tiếp thu từ những công trình nghiên cứu trước, đồng thời có điều chỉnh nhằm đơn giản hóa và làm rõ các mối quan hệ giữa những thành tố cấu tạo.
Thầy Nguyễn Ngọc Quận đã giải thích chi tiết, về sơ đồ cấu tạo chữ Nôm:
- Nhóm A – chữ Nôm vay mượn – sử dụng trực tiếp hình thể chữ Hán, có thể mượn âm, mượn nghĩa hoặc kết hợp cả hai. Trong nhóm này, có trường hợp giữ nguyên hình thể, âm Hán Việt và nghĩa; trường hợp sử dụng âm Hán cổ hoặc âm Hán Việt đã được Việt hóa; trường hợp chỉ mượn âm để ghi tiếng Việt; trường hợp mượn hình thể và âm gần đúng rồi đọc chệch; và trường hợp mượn nghĩa chữ Hán để ghi từ tiếng Việt mà không dựa vào âm Hán Việt. Những phương thức này phản ánh sự linh hoạt trong việc tận dụng chất liệu chữ Hán để ghi lại tiếng Việt.
- Nhóm B – chữ Nôm sáng tạo – gồm những chữ được tạo nên bằng cách kết hợp, cải biến hoặc lắp ghép các thành tố chữ Hán và chữ Nôm có sẵn. Nhóm này được phân thành nhiều tiểu loại theo quan hệ biểu âm và biểu ý. Có loại kết hợp hai thành tố cùng biểu âm; loại thêm hoặc bớt ký hiệu để điều chỉnh âm đọc; loại vận dụng phương thức phiên thiết; loại mượn âm của chữ Nôm có sẵn; loại kết hợp các thành tố biểu ý; và loại kết hợp thành tố biểu ý với thành tố biểu âm hoặc những thành tố chỉ có quan hệ liên tưởng về nghĩa.
Đáng chú ý, một số chữ Nôm sử dụng bộ thủ hoặc thành tố có quan hệ ngữ nghĩa để gợi liên tưởng đến một chữ khác cùng trường nghĩa. Những trường hợp này cho thấy cấu tạo chữ Nôm không chỉ dựa trên quan hệ trực tiếp giữa âm và nghĩa mà còn vận dụng các mối liên hệ ngữ nghĩa để tạo chữ.
Một phương thức phổ biến khác là kết hợp thành tố Hán biểu ý với thành tố Hán biểu âm, thường được gọi là chữ Nôm hình thanh. Ví dụ, các chữ cùng đọc là “đá” có thể được phân biệt bằng bộ thủ: bộ túc gợi hoạt động dùng chân đá, còn bộ thạch gợi danh từ chỉ hòn đá. Tương tự, chữ Nôm hình thanh có thể sử dụng một chữ Nôm đã có làm thành tố biểu âm, kết hợp với bộ thủ Hán biểu ý để tạo chữ mới.
Hệ thống 16 tiểu loại không nhằm giải thích tuyệt đối mọi chữ Nôm, nhưng cung cấp cơ sở tương đối toàn diện để nhận diện và mô tả phương thức cấu tạo chữ viết. Tỷ lệ sử dụng các kiểu loại có thể khác nhau tùy văn bản và giai đoạn lịch sử; chữ vay mượn và chữ sáng tạo cũng có thể cùng tồn tại trong một văn bản.
Di sản chữ Nôm Công giáo qua văn bản Thiên Chúa Thánh Mẫu
Việc khảo sát Thiên Chúa Thánh Mẫu cho phép tiếp cận di sản chữ Nôm Công giáo từ nhiều phương diện: lịch sử, chữ viết, tiếng Việt và thuật ngữ tôn giáo. Các đặc điểm cấu tạo chữ Nôm trong văn bản phản ánh cách những người biên soạn vận dụng hệ thống văn tự bản địa để diễn đạt nội dung Kitô giáo. Những dấu tích ngữ âm và lớp từ vựng cổ góp phần làm sáng tỏ diện mạo tiếng Việt trong thế kỷ XVII, đồng thời cung cấp tư liệu cho nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ.
Bên cạnh đó, việc thống kê và phân tích các đơn vị từ ngữ Công giáo trong hai quyển Thượng và Trung giúp nhận diện quá trình hình thành, sử dụng và lưu truyền thuật ngữ tôn giáo bằng tiếng Việt. Đây cũng là cơ sở để tìm hiểu sự tiếp biến ngôn ngữ, văn hóa trong hoạt động truyền giáo: các khái niệm Kitô giáo được diễn đạt thông qua chất liệu ngôn ngữ và văn tự sẵn có của người Việt, qua đó góp phần hình thành một lớp từ vựng chuyên biệt gắn với đời sống đức tin.
Giá trị lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ học
Từ góc nhìn văn tự học và ngôn ngữ học lịch sử, di sản Hán Nôm Công giáo là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt, chữ Hán và ngôn ngữ Công giáo trong buổi đầu truyền giáo. Những văn bản này cho thấy chữ Nôm đã được vận dụng như một phương tiện truyền đạt đức tin, đồng thời lưu giữ các đặc điểm của tiếng Việt ở những giai đoạn lịch sử trước đây.
Việc khảo sát cụ thể từng văn bản, từng kiểu cấu tạo chữ và từng đơn vị từ ngữ giúp vượt ra ngoài cách nhìn thuần túy tôn giáo, để nhận diện đóng góp của các thừa sai đối với lịch sử chữ viết, tiếng Việt và giao lưu văn hóa. Đồng thời, đây còn là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ Công giáo tại Việt Nam, cũng như mối tương tác giữa công cuộc loan báo Tin mừng và đời sống văn hóa bản địa.
Kết luận
Tham luận khẳng định giá trị của di sản Hán Nôm Công giáo như một bộ phận đáng chú ý trong lịch sử văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam. Thông qua việc khảo sát Thiên Chúa Thánh Mẫu, nghiên cứu làm rõ khả năng vận dụng chữ Nôm vào hoạt động truyền giáo, đồng thời mở ra hướng tiếp cận có hệ thống đối với đặc điểm văn tự, ngữ âm, từ vựng và sự hình thành thuật ngữ Công giáo. Việc tiếp tục khai thác những tư liệu này sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn mối quan hệ giữa lịch sử truyền giáo, sự phát triển của tiếng Việt và tiến trình giao lưu văn hóa tại Việt Nam.

III. ĐÚC KẾT
Sau các bài thuyết trình, Đức TGM Giuse Đặng Đức Ngân đã có bài đúc kết và bế mạc Hội thảo chuyên đề: “Di sản văn hóa của các thừa sai Công giáo tại Việt Nam - Hướng tới kỷ niệm 400 năm Tin mừng đến Cửa Bạng, miền Bắc Việt Nam”. Ngài nói:

“Sau một buổi sáng làm việc nghiêm túc trong tinh thần gặp gỡ, trao đổi và suy tư, hội thảo chuyên đề “Di sản văn hóa của các thừa sai Công giáo tại Việt Nam” đã mở ra những hướng tiếp cận phong phú về lịch sử, văn hóa và sứ mạng truyền giáo của Giáo hội tại Việt Nam.
Qua bốn bài thuyết trình, chúng ta được tiếp cận di sản từ những góc nhìn bổ sung cho nhau.
Bài thuyết trình của Cha Giuse Trần Sĩ Tín về dân tộc học nhấn mạnh giá trị của ngôn ngữ, phong tục, truyền thống và đời sống cộng đồng trong công cuộc truyền giáo.
Bài trình bày của Thầy Michel Nguyễn Hạnh về kiến trúc nhà thờ giúp chúng ta nhận ra những dấu ấn lịch sử, nghệ thuật và biểu tượng của đức tin.
Cha Giuse Trương Đình Hiền đã gợi mở cái nhìn tổng thể về di sản các thừa sai trong dòng chảy lịch sử truyền giáo, với tinh thần biết ơn, tôn trọng sự thật và nhìn nhận lịch sử cách quân bình.
Trong khi đó, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quận và Cha Giuse Nguyễn Văn Đại đã làm nổi bật giá trị của di sản Hán Nôm Công giáo đối với việc nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ, văn học và sự tiếp nhận tư tưởng Kitô giáo tại Việt Nam.
Từ những nội dung ấy, chúng ta nhận ra rằng di sản truyền giáo không chỉ là những văn bản cổ hay công trình kiến trúc, mà còn sống động trong ký ức, truyền thống và đời sống của các cộng đồng. Vì thế, việc bảo tồn và phát huy di sản cần được thực hiện bằng phương pháp liên ngành, kết hợp nghiên cứu khoa học với sưu tầm, kiểm kê, số hóa và trao truyền tư liệu cho các thế hệ mai sau. Đồng thời, Giáo hội cần tiếp tục đối thoại với văn hóa dân tộc, tôn trọng những giá trị bản địa và phân định lịch sử trong ánh sáng của sự thật, lòng bác ái và tinh thần trách nhiệm.
Việc gìn giữ di sản cũng gắn liền với sứ mạng loan báo Tin mừng hôm nay. Noi gương các thế hệ thừa sai, chúng ta được mời gọi biết lắng nghe, học hỏi ngôn ngữ và văn hóa, tôn trọng con người, đồng thời tìm kiếm những cách thức diễn đạt đức tin phù hợp với hoàn cảnh xã hội đương đại.”
Thay mặt Ban Tổ chức, Đức TGM Giuse đã cảm ơn quý vị thuyết trình viên, Ban Điều phối, các cơ quan, đơn vị cộng tác và toàn thể quý tham dự viên đã góp phần làm nên thành công của Hội thảo. Ngài ước mong tinh thần cộng tác giữa các nhà nghiên cứu, các chuyên ngành và cộng đoàn tiếp tục được nuôi dưỡng, góp phần làm phong phú kho tàng tri thức về Giáo hội và lịch sử dân tộc Việt Nam.

Hướng tới kỷ niệm 400 năm Tin mừng đến Cửa Bạng, ngài cũng nguyện xin dấu mốc ý nghĩa này trở thành động lực để mọi người đào sâu căn tính văn hóa của Giáo hội tại Việt Nam, gìn giữ những giá trị tốt đẹp của di sản và xây dựng những nhịp cầu đối thoại giữa đức tin, văn hóa, lịch sử và xã hội.
Với tư cách Chủ tịch Ủy ban Văn hóa trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đức TGM Giuse tuyên bố bế mạc Hội thảo chuyên đề “Di sản văn hóa của các thừa sai Công giáo tại Việt Nam” và nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho quý Đức cha, Đức ông, quý Cha, quý Tu sĩ nam nữ và toàn thể tham dự viên; và ước mong những nỗ lực nghiên cứu, gìn giữ và phát huy di sản của mọi người sinh nhiều hoa trái tốt đẹp cho Giáo hội và quê hương Việt Nam.
Lúc 12g15, buổi Hội thảo khép lại, trái tim bao người Công giáo mở ra, hướng tới kỷ niệm 400 năm Tin mừng đến Cửa Bạng vào năm 2027.
Bài: Tiến Hương & Ảnh: Media WHĐ
Những tin cũ hơn
HĐGMVN Hội Thảo Di Sản Văn Hóa
Ủy Ban Văn Hóa HĐGMVN Tiếp Nhận Di Sản.
Hữu xạ tự nhiên hương
Ý nghĩa cuối cùng của người Linh mục - Tu sĩ
Đức Kitô, Người đang sống
Hãy làm đẹp lòng Thiên Chúa
Ban Caritas Giáo phận Ban Mê Thuột Tập huấn
Đừng tích trữ cho mình
Các lãnh đạo thế giới cầu nguyện cho ĐTC
Thánh Lễ Cung hiến Đền Thánh Đức Mẹ Núi Cúi
Thông tin sức khỏe ĐTC chiều 16/10/2026
HĐGMVN -Thư gửi Cộng Đồng Dân Chúa
Truyện ngắn: Trở Về Trong Tình Yêu
Của César trả về César-của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa
Tình khúc (Ân Đức)
277 Câu Trắc Nghiệm GIÁO LÝ DỰ TÒNG
Nghi thức lễ Gia Tiên
Vui Học Giáo Lý 531 Câu Trắc Nghiệm XƯNG TỘI & RƯỚC LỄ 1
Thánh lễ Truyền chức Linh Mục -2023
Khai mạc Hội nghị thường niên kỳ I/2023
Biên bản Hội nghị thường niên kỳ I/2023
Tân linh mục Phêrô Nguyễn Tiến Đạt: Thánh lễ tạ ơn
Việt Nam và Tòa Thánh ký kết Thỏa thuận
Giáo xứ Phúc Lộc -Mừng lễ Thánh Đa Minh
Giáo xứ Phúc Lộc: Lễ Chúa Ba Ngôi