TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

Chúa Nhật V Thường Niên -Năm A

“Các con là sự Sáng thế gian”. (Mt 5, 13-16)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

Lời Chúa THỨ BẢY TUẦN 5 THƯỜNG NIÊN

Thứ sáu - 06/02/2026 13:39 |   21
“Đám đông đã ăn và được no nê.” (Mc 8,8)

14/02/2026
THỨ BẢY TUẦN 5 THƯỜNG NIÊN
Thánh Cyrillô, đan sĩ và Mêthôđiô, giám mục

t7 t5 TN

Mc 8,1-10

TẤM BÁNH GIÊ-SU
“Đám đông đã ăn và được no nê.” (Mc 8,8)

Suy niệm: Giữa nơi hoang vắng, đám đông đói ăn, kiệt sức, thế là Chúa Giê-su “chạnh lòng thương” và cho họ ăn bánh no nê. Phép lạ bánh hóa nhiều là dấu chỉ Thiên Chúa đang bước vào lịch sử để chăm sóc dân Người, không chỉ bằng lời nói nhưng bằng chính của ăn thiết yếu cho sự sống. Sự kiện này hiện thực lời sấm ngôn của ngôn sứ I-sai-a về bữa tiệc thời Thiên Sai: Thiên Chúa sẽ dọn cho muôn dân trên núi thánh một bữa tiệc, xóa bỏ tấm màn tang chế, lau sạch nước mắt và tiêu diệt sự chết (x. Is 25,6tt). Khi bẻ bánh cho đám đông, Chúa Giê-su khai mở bữa tiệc của niềm vui cứu độ, ở đó sự sống mới và lòng thương xót của Thiên Chúa chiến thắng sự dữ, khổ đau và tử thần.

Mời Bạn: Thánh Thể là chính Chúa Giê-su trở thành Tấm Bánh hằng sống. Điều Chúa cần nơi ta trước hết là đức tin: tin rằng đây không phải chỉ là biểu tượng, nhưng là tình yêu của Chúa đang ở đó, đang chờ ta, đang hiến mình cho ta. Rồi từ đức tin phát sinh lòng yêu mến: yêu một Đấng đã chọn ở lại trong tấm bánh nhỏ bé, âm thầm, khiêm hạ, để đồng hành với ta từng ngày.

Sống Lời Chúa: Biết quý Thánh Lễ, siêng năng rước lễ với lòng sốt sắng, dành thời gian chầu Thánh Thể để trái tim được ở gần Trái Tim Chúa.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể, Chúa đã cho dân chúng ăn và được no nê. Xin cũng nuôi con bằng chính Chúa, để con được mạnh mẽ trong đức tin, sống bình an trong thử thách, và biết bẻ tấm bánh đời mình ra để cùng Chúa đem lại sự sống cho anh em. Amen.

BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
THỨ BẢY TUẦN 5 THƯỜNG NIÊN

Ca nhập lễ

Hãy tiến lên, chúng ta hãy thờ lạy Thiên Chúa, và hãy tiến bước trước nhan thánh Chúa, Đấng tạo thành chúng ta, vì chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, chúng con là con cái trong nhà, chỉ đứng vững khi dựa vào ơn Chúa, xin Chúa hằng che chở chúng con. Chúng con cầu xin…

Bài Ðọc I: (Năm I) St 3, 9-24

“Chúa đuổi ông ra khỏi vườn địa đàng, để cày ruộng đất”.

Bài trích sách Sáng Thế.

Thiên Chúa đã gọi Ađam và phán bảo ông rằng: “Ngươi ở đâu?”

Ông đã thưa: “Tôi đã nghe tiếng Ngài trong vườn địa đàng, nhưng tôi sợ hãi, vì tôi trần truồng và đang ẩn núp”.

Chúa phán bảo ông rằng: “Ai đã chỉ cho ngươi biết rằng ngươi trần truồng, há chẳng phải tại ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi không được ăn ư?”

Ađam thưa lại: “Người phụ nữ Chúa đã cho làm bạn với tôi, chính nàng đã cho tôi trái cây và tôi đã ăn”.

Và Thiên Chúa phán bảo người phụ nữ rằng: “Tại sao ngươi đã làm điều đó?”

Người phụ nữ thưa: “Con rắn đã lừa dối tôi và tôi đã ăn”.

Thiên Chúa phán bảo con rắn rằng: “Bởi vì mi đã làm điều đó, mi sẽ vô phúc ở giữa mọi sinh vật và mọi muông thú địa cầu, mi sẽ bò đi bằng bụng và mi sẽ ăn bùn đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa mi và người phụ nữ, giữa miêu duệ mi và miêu duệ người đó, người miêu duệ đó sẽ đạp nát đầu mi, còn mi thì rình cắn gót chân người”.

Chúa phán bảo cùng người phụ nữ rằng: “Ta sẽ làm cho ngươi gặp nhiều khổ cực khi thai nghén và đau đớn khi sinh con; ngươi sẽ ở dưới quyền người chồng, và chồng sẽ trị ngươi”.

Người lại phán bảo Ađam rằng: “Vì ngươi đã nghe lời vợ mà ăn trái Ta cấm, nên đất bị nguyền rủa vì tội của ngươi. Trọn đời, ngươi phải làm lụng vất vả mới có mà ăn. Ðất sẽ mọc cho ngươi đủ thứ gai góc, và ngươi sẽ ăn rau cỏ ngoài đồng. Ngươi phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi ngươi trở về đất, vì ngươi từ đó mà ra. Ngươi là bụi đất, nên ngươi sẽ trở về bụi đất”.

Và Ađam đã gọi tên vợ mình là Evà: vì lẽ bà là mẹ của chúng sinh.

Thiên Chúa cũng làm cho Ađam và vợ ông những chiếc áo da và mặc cho họ.

Và Người phán: “Nầy, Ađam đã trở thành như một trong chúng ta, biết thiện ác. Vậy bây giờ, đừng để hắn giơ tay hái trái cây trường sinh mà ăn và được sống đời đời”.

Và Thiên Chúa đuổi ông ra khỏi vườn địa đàng, để cày ruộng đất, là nơi ông phát xuất ra.

Ðó là Lời Chúa.

Ðó là Lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 89,2.3-4.5-6.12-13

Xướng: Ôi Thiên Chúa, trước khi núi non sinh đẻ, trước khi địa cầu và vũ trụ nở ra, tự thuở này qua thuở kia, Ngài vẫn có.

Đáp: Thân lạy Chúa, Chúa là chỗ chúng tôi dung thân, từ đời nọ trải qua đời kia.

Xướng: Thực ngàn năm ở trước thiên nhan, tựa hồ như ngày hôm qua đã khuất, như một đêm thức giấc cầm canh. Chúa khiến con người trở về bụi đất, Người phán: “Hãy trở về gốc, hỡi con người”.

Xướng: Chúa khiến họ trôi đi, họ như kẻ mơ màng buổi sáng, họ như cây cỏ mọc xanh tươi; Ban sáng cỏ nở hoa và xanh tốt, buổi chiều nó bị xén đi và nó héo khô.

Xướng: Xin dạy chúng tôi biết đếm ngày giờ, để chúng tôi luyện được lòng trí khôn ngoan. Lạy Chúa, xin trở lại, chớ còn để tới bao giờ, xin tỏ lòng xót thương tôi tớ của Ngài.

Bài Ðọc I: (Năm II) 1 V 12, 26-32; 13, 33-34

“Giêroboam đúc hai con bò vàng”.

Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.

Trong những ngày ấy, Giêroboam nói trong lòng rằng: “Giờ đây vương quốc sẽ trở về với nhà Ðavít; nếu dân này lên Giêrusalem để tế lễ trong nhà Chúa, thì lòng dân này sẽ quy thuận với chủ mình là Roboam, vua xứ Giuđa; họ sẽ giết ta và trở về với Roboam”. Bấy giờ, ông triệu tập hội nghị và đúc hai con bò vàng, ông nói với dân chúng rằng: “Các ngươi không cần phải lên Giêrusalem nữa. Hỡi Israel, đây những vị thần minh đã dẫn ngươi ra khỏi đất Ai-cập”. Ông đặt một con bò vàng ở Bêthel và một con ở Ðan. Việc đó là dịp tội cho dân Israel, vì dân chúng lên tận Ðan để thờ con bò vàng. Ông còn xây chùa miếu trên những nơi cao, đặt các người trong dân làm tư tế, họ không phải là con cháu Lêvi. Ông chọn ngày rằm tháng tám là ngày lễ trọng, giống như lễ trọng thường cử hành trong xứ Giuđa. Ông lên bàn thờ để tế những tượng bò mà ông đã đúc, ông làm như thế ở Bêthel; cũng tại Bêthel, ông đã thiết lập hàng tư tế trong các chùa miếu mà ông đã xây cất trên những nơi cao.

Sau các sự việc đó, Giêroboam chẳng những không dứt bỏ đàng tội lỗi, mà trái lại ông còn tiếp tục đặt ở những nơi cao hàng tư tế chọn trong dân chúng. Do đó, nhà Giêroboam phạm tội, bị lật đổ và xoá khỏi mặt đất.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 105, 6-7a. 19-20. 21-22.

Ðáp: Lạy Chúa, xin nhớ chúng con khi gia ân huệ cho dân Ngài (c. 4a).

Xướng: Chúng tôi đã phạm tội cũng như tổ phụ chúng tôi, chúng tôi đã làm điều gian ác và ăn ở bất nhân. Tổ phụ chúng tôi, khi còn ở bên Ai-cập, đã không suy xét những việc lạ lùng của Chúa.

Xướng: Dân chúng đã đúc con bò tại Horéb, và lễ bái thần tượng đã đúc bằng vàng. Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ.

Xướng: Họ đã quên Thiên Chúa là Ðấng cứu độ mình, Ðấng đã làm những điều trọng đại bên Ai-cập, Ðấng đã làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và những điều kinh ngạc nơi Biển Ðỏ.

Alleluia

Alleluia – Alleluia – Ước gì hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng – Alleluia.

 PHÚC ÂM: Mc 8,1-10

“Họ ăn no nê”.

Bài trích Phúc Âm theo Thánh Marcô.

Trong những ngày ấy, dân chúng theo Chúa Giêsu đông đảo, và họ không có gì ăn, Người gọi các môn đệ và bảo: “Ta thương đám đông, vì này đã ba ngày rồi, họ không rời bỏ Ta và không có gì ăn. Nếu Ta để họ đói mà về nhà, họ sẽ mệt lả giữa đường, vì có nhiều người từ xa mà đến”.

Các môn đệ thưa: “Giữa nơi hoang địa này, lấy đâu đủ bánh cho họ ăn no”.

Và người hỏi các ông: “Các con có bao nhiêu bánh?”

Các ông thưa: “Có bảy chiếc”.

Người truyền dân chúng ngồi xuống đất, rồi Người cầm lấy bảy chiếc bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ phân phát.

Các ông chia cho dân chúng.

Các môn đệ còn có mấy con cá nhỏ.

Người cũng đọc lời chúc tụng và truyền cho các ông phân phát.

Dân chúng ăn no nê và người ta thu lượm những miếng còn thừa lại được bảy thúng.

Số người ăn độ chừng bốn ngàn.

Rồi Người giải tán họ, kế đó Người cùng các môn đệ xuống thuyền đến miền Ðammanutha.

Đó là lời Chúa

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, trong muôn vật Chúa đã dựng nên, Chúa đã lấy bánh và rượu để nuôi dưỡng loài người; xin cho bánh rượu này cũng trở nên bí tích đem lại cho chúng con sự sống muôn đời. Chúng con cầu xin…

Ca hiệp lễ

Thiên hạ hãy cảm ơn Chúa vì Chúa nhân hậu, và những điều kỳ diệu của Ngài đối với loài người, bởi Người đã cho người đói khát được no nê, người cơ hàn được tràn trề thiện hảo.

Hoặc đọc:

Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho những ai đói khát điều công chính, thì họ sẽ được no thoả.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho chúng con cùng được chia sẻ một tấm bánh, cùng được uống chung một chén rượu; xin cho cộng đoàn chúng con đây biết thành tâm hiệp nhất trong tình yêu của Ðức Kitô, để nhờ đó mà cả thế giới này được hưởng ơn cứu độ. Chúng con cầu xin…

Suy niệm

TÌNH THƯƠNG LÀM NÊN PHÉP LẠ
Lm. Giuse Vũ Công Viện

Tin Mừng Mác-cô và Mát-thêu thuật lại tới hai phép lạ hóa bánh ra nhiều, một xảy ra ở vùng đất Do-thái, một xảy ra ở vùng đất lương dân. Phép lạ được trích đọc hôm nay là phép lạ thứ hai, xảy ra tại vùng đất dân ngoại, có vài chi tiết đáng chú ý:

– Số bánh ban đầu là 7 cái.

– Số người ăn là bốn ngàn.

– Số bánh dư là bảy thúng.

– Không nhắc tới cá, chỉ nhắc tới bánh thôi.

Lý do để Chúa làm phép lạ là vì thương dân chúng: “Ta thương đám đông, vì này đã ba ngày rồi, họ không rời bỏ Ta và không có gì ăn. Nếu ta để họ đói mà về nhà, họ sẽ mệt lả giữa đường”.

Tấm lòng của Chúa Giê-su là thế và mãi mãi là thế, ngày xưa thế nào ngày nay vẫn thế. Chúa Giê-su đã có thể nuôi sống được đám đông dân chúng, dù chỉ bắt đầu với bảy chiếc bánh, là vì Ngài đã chạnh lòng thương xót họ.

Mọi sáng kiến bác ái từ thiện và mọi chính sách phân phối đều phải khởi đi từ tấm lòng yêu thương, nếu không chúng ta sẽ dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn, trở ngại, hoặc sớm muộn những công việc ấy cũng bị những ý đồ ích kỷ, vụ lợi chen vào.

Ngày hôm nay Chúa vẫn chạnh lòng thương nhân loại. Chúa đã lấy chính Thịt Máu Ngài làm lương thực mang lại sự sống đời đời cho nhân loại. Chúa vẫn gia tăng lương thực cho nhân loại nhờ sự phát triển của khoa học; và với sự giàu có của con người hôm nay, Ngài tin chắc mọi người sẽ được no thỏa để phát triển đến mức tối đa.

Tuy nhiên, để lương thực ấy đủ cho mọi người thuộc mọi thế hệ, Chúa Giê-su cần đến sự cộng tác của mọi người, đặc biệt của các Ki-tô hữu bằng cách phân phát, chia sẻ. Đám đông hôm đó sẽ vẫn tiếp tục đói khát, nếu hôm ấy, các Tông đồ cứ giữ chặt bảy chiếc bánh khẩu phần ăn của mình không đưa ra để Chúa làm phép lạ; dân chúng hôm đó sẽ đói lả, nếu các Tông đồ không phân phát bánh cho mọi người, vì sợ thiếu hay không còn phần mình. Cảnh đói khát hôm nay sẽ mãi vẫn còn, vì người ta từ chối phân phát và chia sẻ cho người khác, mỗi người chỉ bo bo giữ cho mình. Nếu mỗi người biết quảng đại sẻ chia, dù chỉ một chút bánh, một chút gạo, dù chỉ có thể làm cho một người bớt đói; nhưng ai cũng làm như thế, thế giới sẽ không còn ai phải đói.

Nếu không có tấm lòng yêu thương, chúng ta sẽ chẳng thể có sáng kiến trong việc cứu giúp người khác, mà còn biện hộ cho khả năng giới hạn của mình và đình hoãn việc trợ giúp. Nhưng nếu có tình thương, phép lạ sẽ xảy ra, người đói sẽ được ăn, sẽ không còn cảnh đói khát nghèo nàn.

Xin cho chúng ta ngày càng có tấm lòng yêu thương của Chúa, để những người xung quanh chúng ta không còn bị đói khát vì sự ích kỷ của chúng ta.

 

PHÉP LẠ HÓA BÁNH LẦN THỨ HAI (Mc 8,1-10)
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

1. Đã ba ngày đám dân chúng đi nghe Chúa giảng mà không có gì ăn, Đức Giê-su động lòng thương xót họ nên bảo các môn đệ lo cho họ ăn, vì sợ họ về mệt lả dọc đường. Các môn đệ thưa ở nơi hẻo lánh này không thể tìm đâu đủ bánh cho họ ăn vì các ông chỉ có bảy chiếc bánh và mấy con cá. Chúa liền bảo dân chúng ngồi xuống, rồi Người cầm lấy bánh và cá của các ông, tạ ơn, rồi trao cho các ông phân phát cho dân chúng ăn. Mọi người đều ăn no nê và còn dư bảy thúng. Số người ăn độ bốn ngàn.

2. Bài Tin Mừng hôm nay nêu bật lòng thương và quyền năng của Đức Giê-su. Người tỏ lòng thương những người dân đơn sơ, chất phác đi theo Người không kể gian nan, không nghĩ đến việc phải tìm đâu ra của ăn. Sở dĩ Đức Giê-su đã có thể nuôi sống được đám đông dân chúng, dù chỉ bắt đầu với bảy chiếc bánh và mấy con cá nhỏ, là vì Người đã chạnh lòng thương xót họ. Vì thế, mọi sáng kiến bác ái từ thiện và mọi chính sách phân phối đều phải được khởi đi từ tấm lòng yêu thương, nếu không chúng ta sẽ dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn, trở ngại, hoặc không sớm thì muộn, những công việc ấy cũng bị chen vào ý đồ ích kỷ, vụ lợi.

3. Chúa Giê-su làm phép bánh xong, Người không đích thân phân phát mà trao cho các môn đệ để các ông phân phát. Nghĩa là tuy Chúa có thể ban bánh cho lương dân, nhưng Người muốn chúng ta  góp phần mình vào đó. Chính Chúa Giê-su đã bảo các ông hãy dọn ra cho đám dân chứ không nhờ ai khác. Như vậy, Chúa cũng bảo chúng ta phải có liên đới với những người chung quanh (nơi giáo xứ, trường học, nơi làm việc) cả tinh thần lẫn vật chất:

– Về tinh thần: có trách nhiệm về đức tin với cận nhân. Đó không phải là chuyện chỉ dành cho cha xứ, dành cho các giáo lý viên, mà là mọi người con Chúa đều mang trên mình sứ mạng phải truyền bá và làm chứng đời sống đức tin và đạo đức cho anh em.

– Về vật chất: biết chia sẻ cơm áo cho người thiếu thốn hơn mình. Đó không phải chỉ là việc những nhà từ thiện, những tổ chức cứu trợ, mà là trong khả năng chung tay đóng góp của mình.

4. Nhiều nhà chú giải còn gọi phép lạ hóa bánh ra nhiều là phép lạ của tình thương. Vì thế mà phép lạ hóa bánh ra nhiều được coi như là hình ảnh của Bí tích Thánh Thể. Vì yêu thương mà Chúa đã lấy thịt máu mình để nuôi con người. Với lương thực này, Người tin chắc  mọi người sẽ được no thỏa để phát triển đến mức tối đa.

Tuy nhiên, để lương thực ấy đủ cho mọi người thuộc mọi thế hệ, Đức Giê-su cần đến sự cộng tác của con người, đặc biệt của Giáo hội, bằng cách phân phát, chia sẻ. Đám đông sẽ vẫn tiếp tục đói khát, nếu hôm ấy, các Tông đồ không phân phát bánh và cá cho người khác, vì sợ thiếu hay sợ không còn phần cho mình. Nếu vậy, cảnh đói khát ngày nay vẫn còn, là vì người ta từ chối phân phát và chia sẻ cho người khác, mà chỉ bo bo giữ lấy cho mình.

5. Truyện: Một nồi cháo đá tuyệt vời.

Một người lạ mặt đến gõ cửa nhà một bà góa nghèo để xin ăn. Nhưng bà góa nghèo này biết, trong nhà bà không có gì để ăn cả.

Người lạ mặt nói:

– Không sao, tôi có mang theo một hòn đá. Hòn đá này có thể biến nước lã thành một thứ cháo tuyệt vời. Vậy xin bà cho tôi mượn một cái nồi lớn.

Thấy người là mặt này có vẻ thành thật, bà góa kia đi lấy một cái nồi lớn, bắc lên bếp, rồi đổ nước đầy nồi. Nhóm bếp lên để nấu nồi nước xong, bà chạy qua các nhà hàng xóm báo cho họ biết về hòn đá lạ lùng của người lạ mặt đang ở nhà bà. Thế là người này truyền miệng người kia. Một lát sau, người ta kéo đầy đến nhà bà… đông quá đến nỗi không còn chỗ chứa. Trước những đôi mắt mở to vì tò mò, người lạ mắt lấy ra từ trong bị của ông một hòn đá, rồi trịnh trọng bỏ vào nồi nước lúc này đang sôi. Ông ta lấy chiếc đũa giá lớn, quậy nồi nước lên. Một lát sau, ông lấy một muỗm nhỏ, múc nước ở trong nồi, đưa lên miệng thổi cho nguội đi rồi nếm, vừa nếm ông vừa hít hà nói:

– Thật là tuyệt vời. Nhưng nếu giá có thêm một ít khoai bỏ vào nữa, thì còn tuyệt hơn nhiều

Nghe người lạ mặt nói thế, một người đàn bà có mặt lên tiếng:

– Nhà tôi có khoai.

Nói xong, bà vội chạy về nhà, đem đến một rổ khoai. Người lạ mặt cho những miếng khoai đã được gọt rửa, rồi xắt nhỏ, bỏ vào nồi cháo. Ông ngồi đó để quậy nồi cháo.

Một lát sau, ông lại lấy muỗm múc ra để nếm thử, rồi nói:

– Tuyệt lắm rồi. Nhưng giá có thêm một chút thịt thì ngon hơn nhiều.

Nghe nói thế, một bà có mặt ở đó, nhà làm thịt heo, chạy về nhà lấy ngay mấy miếng xương và mấy miếng thịt heo chưa bán hết đem tới.

Người lạ mắt bỏ những miếng xương và mấy miệng thịt kia vào nồi, rồi lại ngồi đó quậy nồi cháo một hồi lâu.

Trước những con mắt chờ đợi để xem sự lạ, người lạ mặt lại múc cháo nếm thử, rồi nói:

– Bây giờ thì chúng ta có thể thưởng thức nồi cháo này được rồi. Nhưng giá có thêm một ít hành ngò và một chút tiêu nữa thì tuyệt hảo.

Thế rồi người ta đã đem hành, ngò và tiêu đến. Sau khi đã bỏ những thứ này vào nồi cháo, người lạ mặt bảo bà góa chủ nhà:

– Hãy lấy bát múc cho mọi người ăn thử.

Trong khi mọi người đang vui vẻ nếm thử cháo đá, thì người lạ mặt đã lén đi mất. Vậy là nhờ mỗi người đóng góp một tí mà hôm đó mọi người đã có một món cháo ngon lạ lùng.

BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
Thánh Cyrillô, đan sĩ và Mêthôđiô, giám mục

 

Ca nhập lễ

Chúa phán: những lời mà Ta đặt vào miệng ngươi, đừng để chúng biến khỏi miệng ngươi, thì lễ vật ngươi đặt trên bàn thờ Ta mới được chấp nhận.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, Chúa đã dùng hai anh em thánh Sy-ri-lô và thánh Mê-tô-đi-ô, để đưa các dân tộc Xi-la-vô-ni-a tới ánh sáng Tin Mừng. Xin mở lòng chúng con đón nhận lời Chúa dạy và biến đổi chúng con thành dân riêng của Chúa luôn đồng tâm nhất trí với nhau, để sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng. Chúng con cầu xin…

Bài Ðọc I:

Phụng vụ Lời Chúa – (theo ngày trong tuần)

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Thiên Chúa uy linh cao cả, xin chấp nhận của lễ chúng con dâng để mừng kính hai anh em thánh Sy-ri-lô và thánh Mê-tô-đi-ô. Ước gì hiến lễ chúng con dâng để tạ ơn Chúa vừa tuyên xưng Chúa uy nghi vinh hiển, vừa đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời. Chúng con cầu xin…

Ca hiệp lễ

Con Người đến để phó mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa đã cho chúng con tìn lại sức mạnh nơi bàn tiệc thánh. Xin giúp chúng con biết noi gương hai thánh Sy-ri-lô và thánh Mê-tô-đi-ô để lại là luôn luôn trung thành phụng sự Chúa và yêu thương phục vụ mọi người mà không hề quản ngại khó khăn. Chúng con cầu xin…

Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Ngày lễ kính thánh Cyrillô và Mêthôđô, được kính như các Tông Đồ dân Slave và được Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II công bố năm 1980, như thánh quan thầy Âu Châu, cùng tước hiệu với thánh Bênêđictô, trùng với ngày qua đời của thánh Cyrillô, khi đến Rôma vào ngày 14.02.869.

Hai anh em Cyrillô và Mêthôđô gốc ở Salonique (Hy Lạp ngày nay). Trước khi đi truyền giáo vùng Moravie, Méthôđô là Tổng trấn một tỉnh người Slave và Cyrillô, nhỏ tuổi hơn, nhưng lại sáng chói hơn, đã chu toàn những sứ vụ tôn giáo và ngoại giao quan trọng. Cả hai nói lưu loát tiếng Slave.

Sứ vụ làm cho hai vị nổi tiếng là sứ vụ do Thượng phụ Photios sai đi từ năm 862-963 với mục đích dạy dỗ và Phúc Âm hóa dân Slave ở Moravie trong ngôn ngữ của họ. Vì thế Cyrillô và Mêthôđô bắt đầu dạy ngữ vựng đầu tiên, được gọi là “Cyrillique” và họ cũng đã dịch các văn bản tôn giáo ra tiếng Slave : Thánh Vịnh, các Phúc Âm, các Thư Tông Đồ, kinh nguyện…

Sau vài năm ở Moravie, Cyrillô và Mêthôđô tiếp tục công tác ở Pannonie (Hungarie và một phần đất Yougoslavie ngày nay), trước khi đến Rôma, nơi họ được Đức Giáo Hoàng Adrien II đón nhận và công nhận các việc họ làm về Phụng Vụ Slave. Tại Rôma, Cyrillô ngã bệnh và qua đời vào ngày 14.02.869, lúc ấy ngài khoảng độ 40 tuổi.

Sau cái chết của người em, Méthôđô được gọi làm giám mục ở Pannonie và sứ thần toà thánh cho dân Slave; ngài gặp nhiều khó khăn do sự chống đối của hàng giáo sĩ Đức; nhưng điều này không ngăn cản được công trình Phúc Âm hoá và hội nhập văn hóa mà ngài đã theo đuổi cho đến chết (885).

Các môn đệ ngài đã rao giảng Tin Mừng miền Bohême, ông hoàng Bozyvojd được rửa tội theo nghi thức Slavon, sau đó là dân Serbie và Lusace (vùng Croatia), tiếp đến là Ba Lan, Bulgarie, Roumanie và vùng Kiev.

Với công trình như thế, chúng ta mới thấy được công khó của hai thánh Cyrillô và Mêthôđô trong việc thiếp lập các cộng đoàn Kitô giáo trong nhiều vùng Đông Âu. Việc này đã tạo một bước tiến để thành lập Âu Châu, không những về mặt tôn giáo, nhưng cả về mặt chính trị và văn hóa.

Mỹ thuật trình bày thánh Cyrillô với bản ngữ vựng, và thánh Mêthôđô với một quyển Phúc Âm mở ra, được ghi bằng tiếng Slavon.

Thông điệp và tính thời sự

Thánh Cyrillô ngã bệnh và biết trước giây phút cuối cùng của mình, vẫn nhận ra ơn gọi cao cả: “Xưa tôi chưa hiện hữu, bây giờ tôi đã hiện hữu và tôi sẽ hiện hữu mãi mãi.” Ngài cầu nguyện cùng Thiên Chúa: “Lạy Chúa, xin gìn giữ đàn chiên trung thành này… Xin triển khai Giáo Hội với số lượng cao và qui tụ mọi thành phần vào trong sự hiệp nhất. Xin thu tóm tất cả thành một dân được tuyển chọn, kết hiệp mọi người trong đức tin và giáo lý chính thống…” (Phụng Vụ Giờ Kinh).

Được giao nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô, Cyrillô và Mêthôđô đã giảng dạy “đức tin chân thật và giáo lý chính thống”, nhưng hai ngài còn hoàn tất công tác Phúc Âm hóa khi hội nhập sứ điệp Kitô giáo vào trong văn hóa các dân Slave. Nhờ thế, khi công trình của hai vị được hoàn tất, đã cho phép ngôn ngữ Slave xứng đáng trở thành văn tự phổ biến. Nhờ việc đề cao ngôn ngữ và văn hóa, các dân tộc Slave đã có thể chống cự lại thứ chính trị thống trị và đồng hóa của người German và người Hy Lạp.

Công trình của Cyrillô và Mêthôđô vô cùng to lớn, đánh dấu bằng sự can đảm trí thức và sự khiêm tốn, vì trong thời gian mà người ta chỉ được cầu nguyện ca tụng Thiên Chúa bằng tiếng Hipri, Hy Lạp hay La Tinh, hai vị thánh Tông Đồ của dân Slave đã đáp trả bằng tiếng Slave, và qua đó cho thấy mọi người có thể với Thiên Chúa bằng ngôn ngữ của mình.

Bên cạnh các tác phẩm tôn giáo, cả hai đã dịch và suy diễn “Bộ Luật Justinien”, được xem như bộ luật cổ nhất của Slave (Zakon Sudnyj). Người ta cũng cho rằng thánh Mêthôđô đã dịch quyển Nomokanon, thu tập các luật Giáo Hội và luật dân sự Byzantin.

Phúc Âm được chọn cho Thánh lễ này là dụ ngôn người gieo giống (Mc 4,1-20). Các khó khăn mà vị Tông Đồ đã phải gánh chịu (Mêthôđô cũng đã phải vào tù) không ngăn cản được hạt giống rơi vào đất tốt và mang lại nhiều hoa trái.

Công trình Phúc Âm hóa vẫn chưa kết thúc. Chính vì thế Hội thánh, trong ngày lễ kính hai vị thánh Tông Đồ này, đã hát trong Thánh lễ Thánh Vịnh 95: Từ ngày này sang ngày khác, hãy công bố ơn cứu độ của Người / hãy thuật lại cho muôn dân vinh quang của Người / cho muôn dân kỳ công của Người. Chúng ta có thể nhắc lại những lời cuối cùng của Cyrillô nói với anh mình là Mêthôđô: “Anh ơi, chúng ta đã chia sẻ cùng một số phận, cùng dắt một cái cày trên cùng một luống. Em biết anh vẫn thích Núi thánh của anh (sự cô tịch), nhưng đừng bỏ trách nhiệm giảng dạy để trở về với núi đó. Thật vậy, anh tìm được nơi nào để hoàn tất ơn cứu độ của anh?”

Enzo Lodi


ĐƯỢC ĂN NO NÊ
(THỨ BẢY - THÁNH SYRILÔ & MÊTÔĐIÔ 14/02)
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB


Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Thánh Syrilô và Thánh Mêtôđiô hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã dùng hai anh em thánh Syrilô và thánh Mêtôđiô, để đưa các dân tộc Xilavônia tới ánh sáng Tin Mừng. Xin Chúa mở lòng chúng ta đón nhận lời Chúa dạy, và xin Chúa biến đổi chúng ta thành dân riêng của Chúa, luôn đồng tâm nhất trí với nhau, để sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng. Hai anh em Côngtăngtinô và Mêtôđiô được Thượng Phụ Giáo Chủ Côngtăngtinôpôli phái sang Môravia để loan báo Tin Mừng. Năm 868, hai vị đi Rôma để trình bày với Đức Giáo Hoàng những việc các vị làm. Côngtăngtinô qua đời tại đó dưới tên trong đan viện là Syrilô (năm 869). Còn Mêtôđiô được phong làm Tổng Giám Mục Xiamium, đi loan báo Tin Mừng cho người Xilavônia (+ năm 885). Ngày 31 tháng 12 năm 1980, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II công bố hai thánh Syrilô và Mêtôđiô là bổn mạng châu Âu cùng với thánh Biển Đức.

Sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng, theo sự hướng dẫn của Thần Khí, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Galát: Hoa trái của Thần Khí: Cuộc sống và hoạt động của người Kitô hữu không phải do nỗ lực riêng, cho bằng, nhờ Thần Khí hoạt động nơi họ. Càng sống theo Thần Khí, càng để cho Thần Khí hướng dẫn, người Kitô hữu càng nhận được ân sủng, nhờ đó, có được một thứ bản năng mới, giúp mình tránh được những việc do tính xác thịt gây ra, mà gặt được hoa trái của Thần Khí… Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu, thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt, thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời.

Sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng, trong sự hiệp nhất nên một, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích Hạnh Thánh Côngtăngtinô Syrilô: Xin làm cho Hội Thánh Chúa được thêm đông và xin liên kết tất cả nên một… Chúa đã phán bảo những người hiếu trung rằng: Ta đã cất nhắc một người Ta đã chọn trong dân, Ta đã tìm ra nghĩa bộc Đavít. Ta đã xức dầu thánh tấn phong người, và sẽ không ngừng đưa tay nâng đỡ. Ta sẽ cho các ngươi một vị mục tử đẹp lòng Ta, người sẽ chăn dắt các ngươi thật khôn ngoan sáng suốt.

Sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng, trung thành, chứ đừng phản nghịch bất trung, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích sách Các Vua I: Vua Giarópam làm hai con bò mộng bằng vàng. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 105: Lạy Chúa, xin Ngài nhớ đến con, bởi lòng thương dân Ngài. Cùng các bậc tổ tiên, chúng con đã phạm tội, đã ở bất công, làm điều gian ác. Xưa bên Aicập, tổ tiên chúng con đã không hiểu những kỳ công của Chúa.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra. Trong bài Tin Mừng, thánh Máccô tường thuật: Đám đông đã ăn và được no nê. Lời Chúa là lương thực nuôi sống ta, đường lối thánh chỉ của Chúa làm cho ta được sống và sống dồi dào, ta hãy cúi mình thờ lạy, phủ phục trước tôn nhan Chúa, Đấng dựng nên ta, bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ, chứ đừng như, vua Giarópam làm hai con bò mộng bằng vàng, khiến cho nhà Giarópam phạm tội, rồi bị sụp đổ và tiêu ma khỏi mặt đất, như xưa Dân Chúa, tại Khôrếp, họ đúc một con bê, rồi phủ phục tôn thờ tượng đó. Gieo gì gặt nấy: theo tính xác thịt mà gieo điều xấu, thì, sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát; theo Thần Khí mà gieo điều tốt, thì, sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời. Ước gì chúng ta biết noi gương hai thánh Syrilô và thánh Mêtôđiô: mở lòng đón nhận lời Chúa dạy, và luôn đồng tâm nhất trí với nhau, để sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng. Ước gì được như thế!


PowerPoint-t7-t5-TN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây