TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

CN 29 TNA - Chúa Nhật Truyền Giáo

“Của Xê-da, trả về cho Xê-da; của Thiên Chúa, trả về cho Thiên Chúa.” (Mc 22,21)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

Lời Chúa THỨ NĂM TUẦN 29 THƯỜNG NIÊN

Thứ sáu - 16/10/2026 14:31 |   62
“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên.” (Lc 12,49)

22/10/2026
THỨ NĂM TUẦN 29 THƯỜNG NIÊN
Thánh Gioan Phaolô II, giáo hoàng

t5 t29 TN

Lc 12,49-53


CHÚA GIÊ-SU NÉM LỬA XUỐNG THẾ GIAN
“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên.” (Lc 12,49)

Suy niệm: Lửa là thứ có thể đem lại nhiều tác động khôn lường, có thể là rất tốt và cũng có thể rất xấu. Lửa thiêu huỷ những đống rác hôi thối, nhưng cũng thiêu rụi các lâu đài nguy nga tráng lệ từng tồn tại hàng trăm năm. Lửa Chúa Giê-su muốn nói đến không phải là lửa thể lý, nhưng là lửa tình yêu. Lửa tình yêu ấy sưởi ấm những con tim băng giá, đồng thời cũng xóa đi những vết nhơ tội lỗi, nhờ vậy, tâm hồn ta được thanh sạch. Lửa tình yêu Thánh Thần ngự trên các môn đệ và Hội thánh ngày lễ Ngũ tuần, thúc đẩy các ông mạnh dạn bước ra khỏi nhà Tiệc Ly, dấn bước ra đi loan báo Tin Mừng Nước Trời. Ngọn lửa huyền nhiệm này luôn cháy trong lòng các tín hữu, nuôi dưỡng bầu nhiệt huyết truyền giáo mọi thời.

Mời Bạn: Lửa là sức mạnh đáng quý nhưng cũng đáng sợ. Bạn hãy biết tận dụng năng lượng mạnh mẽ, quý giá của lửa tình yêu. Lửa ấy luôn đặt bạn trước những chọn lựa phải đốt đi hay gìn giữ. Đốt đi những tạp chất của tội lỗi và gìn giữ những giá trị tâm linh phong phú của đời sống.

Sống Lời Chúa: Vì lẽ đó bạn cần phải luôn khơi ngọn lửa yêu thương trong cuộc đời mình, góp phần làm cho cuộc đời ấy mỗi ngày một đáng sống hơn. “Thà thắp lên một ngọn lửa còn hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối.”

Cầu nguyện: Lạy Thánh Thần của Thiên Chúa, xin chiếu soi lửa hồng tình yêu vào đêm tối tâm hồn con người và trần gian. Nhờ vậy, con người ra khỏi tình trạng dửng dưng, lãnh đạm với tha nhân, xã hội con người sống liên đới, yêu thương nhau hơn. Amen.

BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
Thứ năm tuần 29 THƯỜNG NIÊN

Ca nhập lễ

Lạy Chúa, tôi kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời tôi, xin ghé tai về bên tôi, xin nghe rõ tiếng tôi. Lạy Chúa, xin gìn giữ tôi như con ngươi mắt Chúa, xin che chở tôi trong bóng cánh của Ngài.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin tạo cho chúng con một tấm lòng trung tín và quảng đại để chúng con nhiệt thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…

Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 6, 19-23

“Giờ đây anh em được thoát khỏi sự tội, được phục vụ Thiên Chúa”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tôi nói theo kiểu người phàm, bởi lẽ xác thịt anh em yếu đuối: như xưa anh em đã cống hiến chi thể anh em để làm nô lệ sự ô uế và sự gian ác, khiến anh em trở nên người gian ác thế nào, thì giờ đây anh em hãy cống hiến chi thể anh em để phục vụ đức công chính, hầu nên thánh thiện cũng như vậy. Vì xưa kia anh em làm nô lệ tội lỗi, thì anh em được tự do đối với đức công chính. Vậy thì bấy giờ anh em đã được những lợi ích gì do những việc mà giờ đây anh em phải hổ thẹn? Vì chung cục của những điều ấy là sự chết. Nhưng giờ đây, anh em được thoát khỏi sự tội, được phục vụ Thiên Chúa, thì anh em được những ích lợi đưa đến thánh thiện, mà chung cục là sự sống đời đời. Bởi vì lương bổng của tội lỗi là sự chết. Nhưng hồng ân của Thiên Chúa là sự sống đời đời trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 1, 1-2. 3. 4 và 6

Ðáp: Phúc thay người đặt niềm tin cậy vào Chúa

Xướng: Phúc cho ai không theo mưu toan kẻ gian ác, không đứng trong đường lối những tội nhân, không ngồi chung với những quân nhạo báng, nhưng vui thoả trong lề luật Chúa và suy ngắm luật Chúa đêm ngày.

Xướng: Họ như cây trồng bên suối nước, trổ sinh hoa trái đúng mùa, lá cây không bao giờ tàn úa. Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt.

Xướng: Kẻ gian ác không được như vậy, họ như vỏ trấu bị gió cuốn đi, vì Chúa canh giữ đường người công chính, và đường kẻ gian ác dẫn tới diệt vong.

Bài Ðọc I: (Năm II) Ep 3, 14-21

“Anh em đâm rễ sâu và lập nền kiên cố trong đức mến, để anh em được sung mãn trong mọi sự viên mãn của Thiên Chúa”.

Trích thư Thánh Phalô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.

Anh em thân mến, tôi quỳ gối trước mặt Cha Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là nguồn gốc mọi danh phận làm cha trên trời dưới đất. Xin Người chiếu theo sự giàu có vinh quang của Người và nhờ Thánh Thần của Người, thêm sức mạnh cho anh em được nên người thiêng liêng, và nhờ đức tin, anh em được Ðức Kitô ngự trong lòng anh em, làm cho anh em đâm rễ sâu và lập nền kiên cố trong đức mến, để anh em được hiệp cùng các thánh mà hiểu biết chiều rộng, dài, cao, sâu, và cũng được biết lòng mến của Ðức Kitô vượt quá trí hiểu loài người, để anh em được sung mãn trong mọi sự viên mãn của Thiên Chúa.

Nguyện cho Ðấng toàn năng ban cho chúng ta mọi sự, dư đầy quá sự chúng ta cầu xin hay hoài bão, theo như quyền lực Người thi thố trong chúng ta: nguyện cho Người được vinh quang trong Hội Thánh và trong Ðức Giêsu Kitô, qua mọi thế hệ muôn đời. Amen.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 32, 1-2. 4-5. 11-12. 18-19

Ðáp: Ðịa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b).

Xướng: Người hiền đức, hãy hân hoan trong Chúa. Ca ngợi là việc của những kẻ lòng ngay. Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm, với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa. 

Xướng: Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. 

Xướng: Ý định của Chúa tồn tại muôn đời, tư tưởng lòng Người còn mãi đời nọ sang đời kia. Phúc thay quốc gia mà Chúa là Chúa tể, dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình. 

Xướng: Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn. 

Alleluia: Lc 19, 38

Alleluia, alleluia! – Chúc tụng Ðức Vua, Ðấng nhân danh Chúa mà đến; bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. – Alleluia.

Phúc Âm: Lc 12, 49-53

“Thầy không đến để đem bình an, nhưng đem sự chia rẽ”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian, và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên. Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất. Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba người chống lại hai, và hai người chống lại ba: cha chống đối con trai, và con trai chống đối cha; mẹ chống đối con gái, và con gái chống đối mẹ; mẹ chồng chống đối nàng dâu, và nàng dâu chống đối mẹ chồng”.

Ðó là lời Chúa.

Lời nguyện tiến lễ

 Lạy Chúa, xin cho chúng con biết phụng thờ Chúa tại bàn thánh này, với tâm hồn tự do của con cái Chúa, để những mầu nhiệm chúng con đang cử hành đem lại cho chúng con nguồn ơn thanh tẩy. Chúng con cầu xin...

Ca hiệp lễ

Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Người, và nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Người, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn.

Hoặc đọc:

Con Người đến, để ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.

Lời nguyện hiệp lễ

 Lạy Chúa, Chúa vừa gọi chúng con tời bàn tiệc Nước Trời và ban dồi dào sức sống mới, xin Chúa phù trợ chúng con trong cuộc sống hằng ngày và dạy chúng con biết tìm kiếm những hồng ân vĩnh cửu. Chúng con cầu xin…

Suy niệm

cớ vấp phạm của thập giá
“Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu nhưng là đem sự chia rẽ.” (Lc 12,49-53)

Suy niệm: Thật ngạc nhiên khi chúng ta nghe Chúa Giê-su, Vị Thái Tử Hòa Bình, phán rằng Ngài không đến để ban hòa bình cho trái đất nhưng là đem sự chia rẽ. Tại sao thế? Phải chăng những chiến tranh, khủng bố, mâu thuẫn, tranh dành trên thế giới ngày nay là do Chúa gây nên? Ông Si-mê-on đã chẳng tiên báo rằng Hài Nhi Giê-su sẽ nên “cớ vấp phạm” và “một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn” Mẹ Ngài (x. Lc 2,34-35) hay sao? Quả thật, Chúa Giê-su là đối tượng chống đối của các luật sĩ và Pha-ri-sêu, bị thân nhân cho là mất trí, bị chính các môn đệ bỏ rơi, bởi Ngài đã chọn con đường cứu độ bằng thập giá, điều mà người ta cho là sỉ nhục và điên rồ.

Mời Bạn: Sự chia rẽ mà Chúa nói đến chính là sự căng thẳng trong gia đình, xã hội và ngay trong chính nội tâm mình khi phải chọn lựa giữa sự thiện và sự ác, giữa cuộc sống theo Chúa Ki-tô hoặc theo thế gian. Đó chính là điều các thánh (như thánh Lu-xi-a, thánh Cla-ra, thánh Phan-xi-cô Át-xi-di...) phải đối diện khi chọn sống theo Chúa Ki-tô khiêm nhường, nghèo khó, chịu sỉ nhục.

Chia sẻ: Giáo Hội đang bị nhiều người chống đối vì lập trường lên án phá thai, hôn nhân đồng tính, sống trước hôn nhân... Bạn có thấy sự chia rẽ này đúng như Lời Chúa hôm nay không?

Sống Lời Chúa: Can đảm sống niềm tin của mình, không thỏa hiệp với điều gì trái ngược với đường lối của Chúa.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Ki-tô, xin giúp con dám từ bỏ những quyến luyến lệch lạc, dám chấp nhận những chống đối để sống theo và làm chứng cho Chúa, Đấng chịu đóng đinh trên thập giá.

 

ĐỨC GIÊ-SU ĐEM GÌ ĐẾN TRẦN GIAN?
Lm. Gioan Trần Văn Viện

Chúa Giê-su được mệnh danh là Hoàng tử hòa bình (x. Is 9,5). Giờ phút Chúa được sinh ra, các thiên thần hát vang “bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2,14) và trong suốt cuộc đời rao giảng, chính Người đã chúc phúc cho những ai xây dựng hòa bình. Hơn nữa, trong bữa tiệc cuối cùng, Người đã cầu xin Chúa Cha cho mọi người được hiệp nhất nên một. Nhưng trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su lại công bố: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12,51). Liệu có sự mâu thuẫn trong những lời rao giảng của Chúa?

Chúa Giê-su không phải cố tình đến để mang sự chia rẽ và chiến tranh mà sự hiện diện của Người nơi trần gian sẽ gây ra những sự chia rẽ và xung đột bởi vì Người đặt con người trước những sự lựa chọn. Con người luôn có sự tự do để quyết định trước những chân lý mà Chúa mang đến và mỗi người sẽ có những sự lựa chọn riêng cho chính họ. Trước những phép lạ và lời rao giảng của Chúa, đã có nhiều người tin vào Người nhưng cũng có nhiều kẻ không tin. Như thế, niềm tin xuất phát từ bên trong con người trở thành nguyên cớ dẫn tới sự xung đột. Giờ đây những người không tin vào Chúa sẽ tìm cách chống lại Người và chống lại cả những người tin. Sự chia rẽ, đối kháng này cũng xảy ra ngay cả trong gia đình: giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em, giữa mẹ chồng và nàng dâu. Đây là một sự thật đau lòng mà có lẽ Chúa cũng không muốn. Thực tế cuộc sống đã chứng mình điều này.

Thưa anh chị em, vậy đâu là hòa bình và sự hiệp nhất mà Chúa Giê-su đem đến cho trần gian? Chúa đến không phải như vị vua quyền lực để thiết lập hòa bình cho đất nước mình, nhưng Người mang hòa bình và sự hiệp nhất cho nhân loại bằng con đường thập giá. Qua thập giá, Chúa đã khôi phục hòa bình và hiệp nhất giữa con người với Thiên Chúa. Nhờ Người, Thiên Chúa đã tha thứ tội lỗi cho con người và giao hòa với họ. Cũng nhờ Người, mà nền hòa bình và sự hiệp nhất giữa con người với nhau được thiết lập qua việc quy tụ tất cả mọi người để họ có thể liên đới và yêu thương nhau như các chi thể trong cùng một thân thể. Một thế giới hiệp nhất và hòa bình là một thế giới tràn đầy tình yêu thương.

Chúa Giê-su đã đem lửa, ngọn lửa của tình yêu mến đến thế gian. Chúa ước mong ngọn lửa đó được bùng cháy lên trong tâm hồn mỗi người để họ nhận ra sự hiện diện và tình yêu của Người. Mỗi người chúng ta được mời gọi trở nên những Ki-tô hữu có trái tim rực lửa lòng yêu mến Chúa, hăng say loan báo Tin Mừng mặc dù phải gặp biết bao nhiêu chống đối, bách hại. Mỗi chúng ta hãy thức tỉnh lý trí và con tim của mình để chọn theo Chúa Giê-su Ki-tô dù có nhiều xung đột, mâu thuẫn với người khác hay trong chính con người xác thịt yếu đuối của mình. Chúng ta tin rằng Chúa là Đấng duy nhất đem lại nền hòa bình và hiệp nhất thật sự cho con người.
 

NHỮNG THỬ THÁCH CỦA VIỆC TRUNG THÀNH
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

1. Chúng ta nghĩ thế nào khi nghe Đức Giê-su nói: “Thầy đến để gây chia rẽ” (Lc 12,51). Một câu nói xem ra nghịch lý, khó chấp nhận. Nhưng nếu phân tích sâu xa thì câu nói đó lại là một chân lý tuyệt vời. Hòa bình đích thực chỉ có sau khi đã quyết liệt chiến đấu để chọn lựa. Hòa bình chỉ có khi đã phân rẽ sự ác khỏi điều thiện, bóng tối ra khỏi ánh sáng… Nhờ ngọn lửa thanh tẩy, bợn nhơ được loại bỏ để chỉ còn lại sự tinh tuyền trọn hảo.

2. Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su nói: “Các con tưởng Thầy đến đem sự bình an đến thế gian ư? Không phải thế đâu, Thầy đến để đem sự chia rẽ” (Lc 12,51). Với tư cách là một người hiền lành và khiêm nhường trong lòng, làm sao Đức Giê-su đã đến trần gian để gây chia rẽ và xáo trộn? Tuy nhiên, nhiều khi vì Ngài mà xáo trộn và chia rẽ xảy ra.

Chúng ta cần hiểu rằng: bằng hai chữ hòa bình và chia rẽ, Đức Giê-su kêu gọi người ta chọn lựa thái độ trước Tin Mừng của Ngài: Nhiều người nghĩ rằng Đấng Mê-si-a là Đấng mang hòa bình đến (x.Is 9,5), Đức Giê-su xác nhận là đúng thực, sứ mạng của Ngài là một sứ mạng Hòa bình. Nhưng Ngài cần thấy phải giải thích thêm: chữ “Hòa bình” có nhiều nghĩa: hòa bình kiểu thế gian và hòa bình của Thiên Chúa. Đức Giê-su nói rằng Ngài đến thế gian không phải để đem hòa bình kiểu thế gian, mà là thứ hòa bình của Thiên Chúa. Thứ hòa bình của Thiên Chúa mà Đức Giê-su mang đến, người ta chỉ sẽ nhận được sau khi người ta đã cố gắng chiến đấu để sống theo Tin Mừng của Ngài.

Thực tế cho thấy là sứ vụ của Đức Giê-su đã gặp chống đối, và Lời rao giảng của Ngài đã gây chia rẽ giữa những người tin và những người không tin, chia rẽ xảy ra ngay trong lòng gia đình.

3. Cuộc sống của người Ki-tô hữu là một cuộc chiến đấu không ngừng. Trận chiến mà chúng ta tham dự là trận chiến chống lại sức mạnh của ác thần. Vương quốc Chúa Giê-su thiết lập là một vương quốc luôn trong tình trạng chiến tranh, Giáo hội của Ngài luôn trong tình trạng thánh chiến. Thánh chiến ở đây không có nghĩa là chiếm lại Thánh địa, các nơi thánh hay bất cứ lãnh thổ trần gian nào, nhưng là chống lại sức mạnh của tối tăm, hận thù, tội lỗi và chết chóc.

4. Bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng gây nên chết chóc đau thương. Hòa bình mà nhân loại đạt được lắm khi là giá của rất nhiều mạng người. Người Ki-tô hữu cũng đeo đuổi một cuộc thánh chiến, nhưng là để đạt được bình an trong tâm hồn. Sự bình an ấy, chúng ta chỉ có thể đạt được bằng giá của một cuộc chiến đấu liên lỉ chống lại tội lỗi và khuynh hướng xấu trong chính bản thân. Vì thế, người Tây phương có câu ngạn ngữ: “Si vis pacem, para bellum”: nếu muốn có hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh. Nếu muốn có bình an trong tâm hồn, hãy chuẩn bị đương đầu với những cạm bẫy và sức mạnh của ác thần luôn bủa vây lôi kéo chúng ta đến tội lỗi (R.Veritas).

5. “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”.

Một đạo sĩ Ấn độ dạy các đệ tử: “Đêm tàn và ngày xuất hiện, ánh sáng tới và bóng tối lui là khi nhìn vào mặt nhau, người ta nhận ra nhau là anh em”. Ánh sáng mặt trời, mặt trăng giúp ta thấy rõ sự vật, nhưng không thể biến một người xa lạ thành người anh em của chúng ta. Vậy thứ ánh sáng kỳ diệu ấy từ đâu? Ánh sáng ấy phát xuất từ trái tim. Thứ ánh sáng ấy tỏa ra từ khắp các trang sách Tin Mừng. Khi người xứ Sa-ma-ri-a nhân hậu cúi xuống băng bó vết thương cho người bị nạn, ánh sáng ấy đã bừng lên. Ánh sáng đó khiến hai người xa lạ nhìn vào mặt nhau và nhận ra nhau là anh em. Ta hãy khơi cho ngọn lửa yêu thương bừng cháy, đẩy lui bóng tối hận thù, ích kỷ; mở rộng tâm hồn đón nhận và trao tặng yêu thương, để mọi người nhìn nhận nhau như là anh em đích thực. Bấy giờ, đêm sẽ tàn, ngày mới sẽ bắt đầu, bóng tối nhường chỗ cho ánh sáng, và ánh sáng tỏa rạng từ các trái tim chan hòa yêu thương.

6. Truyện: Ozanam, ngọn lửa nhiệt tình.

Năm 1843, thành phố Paris đang bị xáo trộn, Đạo Công giáo bị đe dọa, các cơ sở tôn giáo bị phá phách. Tại Lyon, bọn thợ thuyền cũng kéo cờ đỏ, hát những bài phạm đến Chúa và phản đạo. Năm ấy Ozanam học luật ở Paris. Dầu còn thanh niên, cậu đã dùng ngòi bút và việc bác ái để phản công. Cậu siêng năng đọc Phúc âm, rước lễ. Cậu thụ giáo với giáo sư Ampère về học thức và đạo đức. Và cậu mạnh bạo bênh vực Giáo hội. Với Ozanam các sinh viên, trước đây rụt rè lo sợ, bây giờ mạnh bạo. Các giáo sư đại học cũng phải kiêng nể Công giáo. Cậu tổ chức các buổi diễn thuyết làm sống lại Đạo Công giáo. Về phía dân chúng, cậu đã cùng 6 anh em khác lập Hội Bác Ái Vinh Sơn giúp đỡ các người nghèo khổ. Hồi 18 tuổi, cậu đã thề: “Nhất định hy sinh đến thí mạng cho dân nghèo”. Đồng thời với Ozanam, Montalembert tranh đấu cho tự do giáo dục của Giáo hội, tại nghị trường. Dù là giáo sư đại học, Ozanam vẫn hàng tuần  đi các khu nghèo khó để dạy giáo lý  cho những công nhân nghèo khổ.

Ngày nay, Giáo hội cũng cần nhiều tâm hồn có lửa nhiệt tình như Ozanam.

THIẾU KIÊN NHẪN THẦN THÁNH
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu xem ra cũng mang trong mình một kỳ vọng quá lớn - nếu không nói là ‘tham vọng’ - “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”. Qua đó, có thể nói, Ngài cũng thiếu kiên nhẫn, một sự ‘thiếu kiên nhẫn thần thánh!’.

Chúa Giêsu muốn thấy ngọn lửa tình yêu và đức hạnh bùng cháy. Ngài nói như thể chính ngọn lửa ấy đang thiêu đốt Ngài, đang cháy bỏng trong trái tim Ngài! Ngài phải chịu phép rửa, tức là thử thách của thập giá, và cảm thấy khắc khoải cho đến khi mọi chuyện kết thúc. Điều này cũng dễ hiểu, vì Ngài có những kế hoạch và nóng lòng muốn thấy chúng được hoàn thành, “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất”. Có thể nói, Chúa Giêsu không thể kiên nhẫn, kiên nhẫn của một vị Thiên Chúa.

Với chúng ta, chúng ta cũng có những ý tưởng và dự án riêng và cũng muốn thấy chúng hoàn thành tức khắc. Nhưng thời gian sẽ luôn cản trở! Đó là sự căng thẳng của cuộc sống, một sự căng thẳng vì lo lắng mà bất kỳ ai cưu mang những dự án lớn đều cảm thấy. Mặt khác, không có tham vọng, chúng ta như đứng yên một chỗ, chết lặng, bị kiềm chế; hậu quả sẽ là buồn bã, cay đắng. Chúa Giêsu, “Đấng có thể dùng quyền năng đang hoạt động nơi chúng ta, mà làm gấp ngàn lần điều chúng ta dám cầu xin hay nghĩ tới” - bài đọc một - như một người đang di chuyển khiến người khác di chuyển; một người đang tiến về phía trước khiến người khác tiến về phía trước. Như vậy, rõ ràng, Ngài đang mất kiên nhẫn bởi những tham vọng tốt lành!

Hãy có những khát vọng lớn để rèn luyện mục tiêu của bạn hướng tới và hướng lên cao hơn! Hãy tìm kiếm sự hoàn thiện cá nhân, sự hoàn thiện của gia đình, sự hoàn thiện của cộng đoàn, của công việc; sự hoàn thiện của những việc làm, của những nhiệm vụ bạn nhận được. Các thánh luôn khao khát những mục tiêu cao cả nhất. Họ không sợ phải đối mặt với những nỗ lực và căng thẳng. Họ đã di chuyển! Hãy tiếp tục, di chuyển nữa! Hãy nhớ lời của Augustinô, “Nếu bạn nói, ‘Đủ rồi, thế là xong!’ thì bạn - thậm chí - đã chết!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”. Như Chúa Giêsu, bạn hãy có cho mình một sự ‘thiếu kiên nhẫn thần thánh!’. “Đừng dừng lại trên đường, đừng quay lại nhưng cứ đi tiếp, cũng đừng đi lạc khỏi đường. Khi dừng lại, bạn không còn tiến về phía trước và sẽ quay lại. Và nếu bạn quay lại với những gì bạn đã bỏ lại phía sau, bạn sẽ lạc lối vì đã bội giáo! Thà là người què trên đường còn hơn là người chạy nước rút rời khỏi đường! Vì thế, hãy luôn không hài lòng với những gì bạn đang có nếu bạn muốn đạt được những gì bạn chưa có. Bởi vì bất cứ nơi nào bạn hài lòng với chính mình, thì ở đó bạn đã bị kẹt. Luôn luôn thêm một chút nữa, luôn luôn tiếp tục bước đi, luôn luôn tiến về phía trước!” - Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con đang tiến tới hay đã dừng lại? Con thà làm người què còn hơn là ‘quán quân’ rời khỏi đường! Lạy Trinh Nữ Maria, Mẹ của niềm hy vọng, xin giúp con!”, Amen.

AUDIO
Suy niệm Lời Chúa thứ Năm tuần 29 Thường niên

 


Thánh Gioan Phaolô II, giáo hoàng

Gioan Phaolô II

 

BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
Thánh Gioan Phaolô II, giáo hoàng

Theo lễ chung các Thánh mục tử: Thánh Giáo hoàng

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, Chúa đã đặt Thánh Gioan Phaolô làm giáo hoàng lãnh đạo toàn thể Hội Thánh, xin cho chúng con được thấm nhuần giáo huấn của thánh nhân, luôn tin tưởng mở rộng tâm hồn đón nhận ân sủng cứu độ của Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc duy nhất của nhân loại. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời.

Bài đọc: Is 52, 7-10

Khắp cùng bờ cõi trái đất đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.

Bài trích sách tiên tri Isaia

7 Đẹp thay trên núi, chân của sứ giả loan báo hòa bình, của sứ giả loan báo tin vui cứu độ, của người nói với Sion rằng: Thiên Chúa ngươi hiển trị!

8 Tiếng những người canh gác của ngươi. Họ lên tiếng, cùng nhau reo vui hoan hỉ. Họ sẽ thấy tận mắt khi Chúa trở về với Sion.

9 Hỡi Giêrusalem hoang tàn, hãy vui mừng và hân hoan, vì Chúa đã an ủi dân Ngài, đã cứu chuộc Giêrusalem.

10 Chúa đã bày tỏ cánh tay thánh thiện của Ngài trước mặt muôn dân, và khắp bờ cõi trái đất đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.

Đó là Lời Chúa.

Đáp ca: Tv 95, 1-2a. 2b-3. 7-8a. 10 (Đ. 3)

Đáp: Giữa muôn dân, hãy loan báo những kỳ công của Chúa.

Xướng: Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hát lên mừng Chúa, hỡi khắp địa cầu. Hát lên mừng Chúa, chúc tụng Thánh Danh.  Đ.

Xướng: Ngày qua ngày, loan báo ơn Ngài cứu độ. Giữa muôn dân, hãy loan báo vinh quang Chúa, nơi muôn nước, hãy kể lại kỳ công của Ngài.  Đ.

Xướng: Hãy dâng Chúa, nào muôn dân trăm họ, hãy dâng Chúa uy quyền với vinh quang, hãy dâng Chúa vinh quang danh Ngài.  Đ.

Alleluia: Ga 10, 14

Alleluia, alleluia. Tôi là mục tử tốt lành, Tôi biết các chiên của Tôi, và các chiên của Tôi biết Tôi, Alleluia.

Tin Mừng: Ga 21, 15-17

Hãy chăn dắt các chiên con của Thầy, hãy chăn dắt các chiên của Thầy.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gioan

Khi ấy, Chúa Giêsu tỏ mình ra cho các môn đệ và dùng bữa với các ông xong, Chúa Giêsu hỏi ông Simon Phêrô: “Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy hơn những người này không?” Ông đáp: “Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Người bảo ông: “Hãy chăn dắt các chiên con của Thầy”. Người lại hỏi lần thứ hai: “Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không? Ông đáp: “Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Người bảo ông: “Hãy chăn dắt các chiên của Thầy”. Người hỏi ông lần thứ ba: “Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không?” Ông Phêrô buồn vì Người hỏi đến lần thứ ba: “Con có yêu mến Thầy không?” Ông đáp: “Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Người bảo ông: “Hãy chăn dắt các chiên của Thầy”.

Đó là Lời Chúa.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, chúng con dâng hy lễ này để tôn vinh Chúa trong ngày kính nhớ Thánh Gioan Phaolô, xin Chúa đoái thương chấp nhận và ban cho chúng con ơn cứu độ muôn đời. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

Ca hiệp lễ  x. Ga 10, 11

Vị mục tử tốt lành thí mạng sống mình vì đàn chiên. (MPS. alleluia)

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, xin cho bí tích chúng con vừa lãnh nhận khơi lên trong chúng con ngọn lửa tình yêu đã bừng cháy mạnh mẽ nơi Thánh Gioan Phaolô, thúc đẩy ngài luôn dấn thân phục vụ Hội Thánh Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

——————————

Nguồn:  Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật các Bí tích
http://www.vatican.va/roman_curia/congregations/ccdds/documents/rc_con_ccdds_doc_20110402_colletta_lt.html

ỦY BAN PHỤNG TỰ HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM chuyển ngữ


ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ

Hôm nay chúng ta mừng lễ thánh Gioan-Phaolô II vị giáo Hoàng của thời đại.

Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II sinh ngày 18.05.1920 tại Wadowice - một thành phố cách Kraków (Ba Lan) chừng 50 km - ngài là người con út trong 3 người con của ông Karol Wojtyła và bà Emilia Kaczorowska, qua đời vào năm 1929. Người anh cả của ngài là Edmund, bác sĩ, qua đời năm 1932 và thân sinh của ngài, một sĩ quan quân đội qua đời vào năm 1941. Trong khi chị của ngài, Olga, qua đời trước khi ngài được sinh ra.

Được rửa tội vào ngày 20.06.1920 tại nhà thờ giáo xứ Wadowice ngay bên cạnh nhà của gia đình ngài do cha Franciszek Zak; rước lễ lần đầu lúc 9 tuổi và lãnh nhận bí tích Thêm sức lúc 18 tuổi. Sau khi học hết chương trình trung học tại Marcin Wadowita, Wadowice, năm 1938, cậu ghi danh vào Đại học Jagellónica, Cracovia.

Khi quân xâm lược Naziste đóng cửa trường đại học vào năm 1939, cậu Karol làm việc (1940-1944) trong một hầm mỏ, và sau đó, trong một nhà máy hóa chất Solvay để kiếm sống và tránh bị đưa vào các trại tập trung bên nước Đức.

Từ năm 1942, cảm thấy mình có ơn gọi làm linh mục, cậu bắt đầu theo học tại Đại Chủng viện chui tại Cracovia dưới sự hướng dẫn của chính Tổng Giám mục Cracovia, ĐHY Adam Stefan Sapieha. Trong thời gian đó, thầy cũng là một trong những người tổ chức “Kịch nghệ Rapsodico”, cũng dưới hình thức chui.

Sau khi chiến tranh kết thúc, thầy tiếp tục theo học trong Đại Chủng viện Cracovia mới được mở cửa lại, và tại Phân khoa Thần học của Viện Đại học Jagellónica, cho đến khi chịu chức linh mục tại Cracovia vào ngày 11.11.1946, do sự đặt tay của Đức Tổng Giám mục Sapieha.

Sau đó, ngài được gởi qua Roma để theo học dưới sự hướng dẫn của cha Dòng Đa Minh người Pháp, cha Garrigou-Lagrange, và vào năm 1948, ngài đậu tiến sĩ thần học với luận án: “Đức tin trong các tác phẩm của Thánh Gioan Thánh giá” (Doctrina de fide apud Sanctum Ioannem a Cruce). Trong thời gian này, vào các kỳ nghỉ hè, ngài thường làm việc mục vụ cho người Ba Lan tại Pháp, Bỉ và Hòa Lan.

Vào năm 1948, ngài trở về Ba Lan, lúc đầu làm phó xứ Niegowić, gần Cracovia, và sau đó, làm phó xứ Thánh Floriano, trong thành phố. Đồng thời, ngài cũng làm tuyên úy sinh viên cho đến năm 1951, vừa theo học triết học và thần học. Vào năm 1953, ngài trình luận án tại Đại học Công giáo Lublino với đề tài: “Thẩm định khả năng thiết lập một nền luân lý Kitô từ hệ thống luân lý của Max Scheler”. Sau đó, ngài trở thành giáo sư Thần học Luân lý trong Đại Chủng viện Cracovia và tại Phân khoa Thần học Lublino.

Ngày 04.07.1958, Đức Giáo hoàng Piô XII đặt ngài làm giám mục hiệu tòa Ombi và giám mục phụ tá Cracovia. Ngài được thụ phong giám mục vào ngày 28.09.1958 tại nhà thờ chánh tòa Wawel (Cracovia), do sự đặt tay của Đức Tổng Giám mục Eugeniusz Baziak.

Ngày 13.01.1964, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đặt ngài làm Tổng Giám mục Cracovia và rồi đề cử ngài lên tước vị Hồng y vào ngày 26..06.1967.

Ngài tham dự Công đồng Vaticano II (1962-1965) với sự đóng góp quan trọng trong việc soạn thảo Hiến chế Gaudium et Spes. Với tư cách Hồng y, ngài cũng là thành viên trong 5 Thượng Hội đồng Giám mục trước khi trở thành Giáo hoàng vào ngày 16.10.1978 và long trọng khởi đầu tác vụ Thánh Phêrô vào ngày 22.10.1978.

Ngài qua đời tại Vatican ngày 02.04.2005, lúc 21:37 (gần hết ngày thứ Bảy, bước vào Ngày Chúa nhật Lòng Chúa Thương Xót).

Từ chiều hôm ấy cho đến lễ an táng của ngài vào ngày 08.04, đã có hơn ba triệu khách hành hương đến Roma để kính viếng ngài, dù phải xếp hàng chờ đợi cả 24 giờ mới có thể vào được bên trong Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô.

Sau đó ngày 28.04, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã miễn chuẩn thời gian chờ đợi 5 năm sau ngày qua đời để khởi sự thủ tục phong chân phước và phong thánh cho Ngài. Thủ tục này đã được chính thức khai mở vào ngày 28.06.2005 do Đức Hồng y Camillo Ruini, Tổng Đại diện coi sóc giáo phận Roma.

Bốn năm sau, ngày 19 tháng 12 năm 2009 ngài đã được Giáo hoàng Bênêđictô XVI phong là Đấng đáng kính  và đến ngày 1 tháng 5 năm 2011 ngài được phong chân phước.

Cuối cùng ngài được Giáo hoàng Phanxicô tuyên thánh vào lúc 10g (3g chiều Việt Nam), ngày lễ Lòng Chúa Thương Xót 27.4.2014 ngày 27 tháng 4 năm 2014. Vì ngài là người sáng lập ra Đại hội Giới trẻ Thế giới nên được chọn là một trong những vị quan thầy bảo trợ cho nhiều kỳ đại hội này kể từ năm 2008.

CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH

Có thể nói con đường nên thánh của Ngài được đặt trên nền tảng của ba cột trụ này:

- Bí tích Thánh Thể.

- Bí tích hòa giải:

- Và lòng sùng kính Đức Mẹ

Trước mỗi chuyến công du, ngài cầu nguyện rất nhiều, xưng tội trước khi đi công du. Ngài vẫn giữ thói quen rất lành thánh là xưng tội hằng tuần. Ngài cổ võ mạnh mẽ cho việc tôn sùng Thánh Thể. Khi viết về những giáo huấn liên quan đến đức tin, ngài thường quỳ gối viết trước Thánh Thể, gần giống như Thánh Thomas Aquino dựa đầu vào Nhà Tạm trước khi nói về Thánh Thể.

Đặc biệt Ngài là “Giáo hoàng của Đức Mẹ” với khẩu hiệu “Totus Tuus” (Tất cả của con là của Mẹ, con hoàn toàn thuộc về Mẹ). Đức Gioan-Phaolô II rất trung thành với Chuỗi Mân Côi, ngài lần hạt từng ngày. Vào mỗi thứ Bảy đầu tháng, ngài lần hạt chung với giáo dân tại Hội trường Phaolô VI. Dịp các Đức Giám Mục hành hương năm 2000, ngài mời chị Lucia đến đọc Kinh Mân Côi, chị đọc một bè bằng tiếng Bồ Đào Nha, ngài và các Giám mục đọc một bè bằng tiếng La Tinh. Ngài đã viết hai văn kiện lớn về Đức Mẹ: Thông điệp Redemptoris Mater (Mẹ Đấng Cứu Độ) và Tông thư Rosarium Vigilis Mariae (Kinh Rất Thánh Mân Côi). Chính ngài đã thêm vào Năm Mầu Nhiệm Sự Sáng và công bố Năm Mân Côi (từ tháng 10.2002 đến tháng 10.2003).

Cuối cùng, nói đến Đức Gioan-Phaolô II chúng không thể không nói đến sáng kiến đặc biệt của Ngài đối với Giới trẻ. Sáng kiến của Ngài vẫn còn được duy trì trong Giáo Hội mãi đến hôm nay và có lẽ cho đến ngày tận thế. Sáng kiến này được bắt đầu vào năm 1985. khi ngài công bố lập ngày giới trẻ thế giới (JMJ) 2 năm 1 lần. Đầu tiên là Rôma (1985), Buenos Aires (Argentine 1987), Santiago de Compostella (Tây Ban Nha 1989)…và nhiều nơi sau đó trên thế giới, để những người trẻ có thể gặp gỡ nhau, cùng ngài tôn vinh Thiên Chúa, đồng thời cùng nói lên niềm hy vọng của nhân loại, rồi sẽ trở về nhà như “những chứng nhân không chút sợ hãi của Tin Mừng “

Với sáng kiến này, Ngài đã truyền cho giới trẻ sự dũng cảm, lòng nhiệt thành khi phải đối đầu với nền văn hóa của sự chết như chiến tranh, bạo lực, nạn phá thai,… để duy trì sự sống cho con người.

Xin được kết thúc bằng Lời của Ngài nói với các bạn trẻ năm 1993 trong diễn từ tại Denver, Colorado, nơi tổ chức Đại hội Giới Trẻ Thế giới:

Hỡi những người trẻ.

Chúa Kitô cần tới các con để thắp sáng địa cầu, để chỉ cho nhân loại ‘nẻo đường đi tìm sự sống (Ps. 16:11. Thách thức mới là các con cần phải thể hiện sự có mặt của Giáo hội Chúa bằng chính cuộc đời và lối sống cụ thể của các con. Các con hãy sắp sẵn trí khôn, tài năng, lòng nhiệt thành và tình thương của các con để đối diện với đời sống và phục vụ đời sống.

Các con đừng sợ xuống đường để đi tới những nơi công cộng như các thánh Tông Đồ xưa. Giờ không còn là thời điểm để các con xấu hổ vì Phúc Âm (cf. Rom. 1:16) Giờ là thời điểm để các con rao giảng từ trên mái nhà (cf. Mt. 10:27). Các con đừng sợ phá vỡ nếp sống tiện nghi và thói quen để chấp nhận thách đố: làm thế nào để khuôn mặt Chúa Giêsu được thế gian biết đến?…

(Diễn từ tại Denver, Colorado, nơi tổ chức Đại hội Giới Trẻ Thế giới năm 1993).


PowerPoint-t5-t29-TN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây