CUỘC RA ĐI NHANH CHÓNG VÀ LỜI THỨC TỈNH CHO PHẬN NGƯỜI MONG MANH

Sự ra đi của Thầy Chủng sinh Si-môn Ngô Quang Trung, một người anh em, một người bạn mà chúng tôi vừa mới có dịp gặp gỡ cách đây không lâu, đã dội vào lòng chúng tôi một cơn chấn động âm thầm nhưng vô cùng tàn nhẫn. Một người trẻ tuổi đời mới 32, đang dâng trào nhựa sống với bao ước mơ còn dang dở trên hành trình dâng hiến, lại bất ngờ được Chúa gọi về trong sự ngỡ ngàng, bàng hoàng của biết bao người ở lại.
Thế nhưng, giữa những nhớ thương bùi ngùi ấy, giọt nước mắt đau xót của chúng tôi không rơi vào tuyệt vọng, mà được thắp sáng bởi niềm hy vọng rạng rỡ vào sự Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô. Chính Ngài đã phán: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11,25). Chiến thắng rực rỡ của Chúa Giêsu trên cái chết đã biến biến cố đau thương này không phải là một vĩnh biệt bi đát, mà là một cuộc vượt qua hồng phúc, một chuyến trở về tràn ngập niềm vui trong vòng tay yêu thương của Chúa Cha. Dù chặng đường trần thế của Thầy Si-môn khép lại sớm, chúng tôi vẫn vững tin rằng Thầy đã bắt đầu bước vào sự sống muôn đời nơi Thiên Quốc.
Niềm tin Phục Sinh biến nỗi đau chia ly thành lời kinh tri ân, nâng đỡ tâm hồn chúng tôi và trao gửi Thầy vào Lòng Thương Xót vô biên của Đấng Phục Sinh, trong niềm hy vọng quyết thảo về ngày tất cả chúng ta sẽ được đoàn tụ vĩnh viễn trong niềm vui trọn vẹn của Nước Trời.
Tiếng băng vỡ
Sự biến mất vĩnh viễn của một con người giữa lúc tuổi xuân đang độ chín không đơn thuần là một biến cố sinh học hay một tổn thất trần thế; đó là một vết nứt quất mạnh vào bản năng sinh tồn, đập tan cái ảo tưởng vững bền mà con người vẫn tự gầy dựng để xoa dịu nỗi sợ hãi trước cái chết. Khi những bàng hoàng ban đầu ngưng lặng, nhường chỗ cho khoảng không thăm thẳm của cõi lòng, chúng ta mới bị đẩy vào một cuộc đối chất bắt buộc với sự trần trụi của mình.
Cái chết của Thầy Si-môn thức tỉnh chúng ta nhận ra rằng: kiếp người hiển nhiên không phải là một bài toán với những công thức lô-gic cứng nhắc hay một phương trình đã ấn định trước đáp số. Đời người là một hành trình thần thiêng, một câu chuyện tình yêu sinh ra từ ý định tự do của Đấng Tối Cao, chứa đựng muôn vàn những khúc quanh bất ngờ, những vực thẫm dở dang và những ẩn số mà lý trí phàm trần không sao thấu suốt.
Chúng ta vẫn thường mải mê phác thảo những viễn cảnh tương lai, tự giam mình trong lối sống lẩn tránh cái chết bằng cách bám chấp vào những danh xưng, địa vị, hay những lớp vỏ trang điểm lộng lẫy bên ngoài. Nhưng chính sự ra đi của Thầy Si-môn đã giật đứt sợi dây an toàn giả tạo ấy. Nó bóc trần thái độ “ăn gian” thời gian của phận người, thức tỉnh chúng ta khỏi giấc ngủ mê tàn nhẫn khi cứ đinh ninh rằng mình còn dư dả muôn vàn ngày mai để trì hoãn việc thứ tha, để khất lần lời yêu thương hay để dung dưỡng những mối tương giao hời hợt.
Niềm hi vọng hằng sống
Nỗi đau trước sự chia ly vĩnh viễn luôn đẩy con người tới việc truy vấn tận cội nguồn của mình. Khi đối diện với sự ra đi của Thầy Si-môn, điều khiến ta đớn đau nhất không chỉ là sự mất mát về diện mạo vật lý, mà là nỗi nhớ thương bùi ngùi đối với một vầng trán trăn trở, một nụ cười ấm áp hay một giọng nói nay đã chìm vào cõi tĩnh mịch. Trong tác phẩm Tự Thuật (Confessiones), Thánh Âu Tinh (St. Augustine) đã ghi lại lời trăn trối bất hủ của thân mẫu người là thánh Mô-ni-ca: “Các con có thể chôn xác mẹ ở đâu cũng được. Mẹ chỉ xin các con một điều là dù các con ở đâu, thì hãy nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa.” [1] Lời trăn trối của thánh Mô-ni-ca chuyển hướng toàn bộ sự chú ý của chúng ta từ chiếc áo hòm vật lý hay vị trí địa lý của phần mộ sang một thực tại thiêng liêng đó là sự tưởng nhớ trước bàn thờ Chúa. Cầu nguyện cho Thầy Si-môn và cho các linh hồn không chỉ là một cử chỉ tưởng niệm mang tính cảm xúc hay một tập tục văn hóa để xoa dịu niềm đau; đó là một bổn phận và là lời tuyên xưng đức tin mạnh mẽ nhất vào chiến thắng của Đức Ki-tô trên cái chết, đang khi chúng ta “trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”.
Lịch sử Phụng vụ và Giáo hội cho thấy tập tục này đã cắm rễ sâu xa trong truyền thống. Ngay từ thời Sơ khai, cộng đoàn Kitô hữu lập danh sách tách biệt hai phần (diptychs): một bên ghi tên những người còn sống, một bên ghi tên những người đã qua đời để tưởng nhớ trong Thánh lễ. Bước qua thế kỷ VI, khi mà các đan viện Biển Đức cử hành nghi lễ tưởng niệm các tu sĩ quá cố vào dịp lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Tại Tây Ban Nha, thời thánh I-si-đô-rô (560-636), lễ này được cử hành vào thứ Bảy trước Chúa Nhật II Mùa Chay hoặc trước lễ Hiện Xuống. Sau các tập tục địa phương, thánh Ô-đi-lô (St. Odilo of Cluny) vào cuối thế kỷ X đã chọn ngày mùng 2 tháng 11, liền kề Lễ Các Thánh, làm ngày cầu nguyện cho toàn thể các tín hữu đã qua đời.
Nền tảng thần học về sự thanh luyện
Tại sao những linh hồn đã khuất lại cần đến lời cầu nguyện của những kẻ ở lại? Để trả lời câu hỏi này, thần học Công giáo không nhìn cái chết như một sự sụp đổ tuyệt đối, cũng không nhìn con người như một thực thể đã hoàn hảo ngay lập tức khi trút hơi thở cuối cùng. Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 1030) khẳng định: “Những người chết trong ân sủng và tình thân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, thì tuy họ chắc chắn sẽ được cứu độ muôn đời, họ còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết hầu tiến vào hưởng niềm vui thiên đàng. [2] Ngay trong Cựu Ước, nền tảng của giáo lý này được thể hiện rõ trong Sách Ma-ca-bê quyển thứ hai. Sau trận chiến, ông Giu-đa Ma-ca-bê đã quyên góp tiền gửi về Giê-ru-sa-lem để xin dâng lễ đền tội cho các tử sĩ vì tin rằng họ sẽ sống lại (2Mcb 12,43-45). Sang thời Tân Ước, thánh Phao-lô cũng khuyên ông Ti-mô-thê-ô cầu nguyện cho O-nê-si-pho-rô, vị cộng tác viên đã qua đời tại Ê-phê-xô (2Tm 1,16-18) [3].
Luyện ngục (Purgatorium) không phải là một “ngục thất trừng phạt” theo nghĩa hình sự trần gian, mà là sự đụng chạm chữa lành của Lòng Thương Xót [4]. Khi một linh hồn rời bỏ thân xác, họ đứng trước Thánh Nhan Tuyệt Mỹ của Thiên Chúa. Chính trong ánh sáng toàn hảo đó, những tàn dư của yếu đuối trần gian, những bất toàn do kiếp bụi đất chưa được bù đắp trọn vẹn trở thành những vết thương khiến linh hồn đau đớn. Thánh Phao-lô dùng hình ảnh “băng qua lửa” (1Cr 3,15) để mô tả tiến trình này: ngọn lửa ấy là ngọn lửa tình yêu tột cùng của Thiên Chúa tống xuất mọi cặn bã của bản ngã để linh hồn đạt tới sự thánh thiện vẹn toàn. Luyện ngục chính là nơi Thiên Chúa diễn tả tình thương của Ngài, khao khát tẩy rửa các linh hồn để họ có thể thông hiệp trọn vẹn với Ngài trong Thiên Quốc.
Giá trị của lời cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời
Thánh vịnh 88, lời than vãn “tối tăm” nhất trong các lời than vãn, cất lên như một khúc ai ca từ ngục tù Sheol (âm phủ): “Lạy Chúa là Thiên Chúa cứu độ con, trước thánh nhan, đêm ngày con kêu cứu. Nguyện cho lời kinh vọng tới Ngài, xin lắng nghe tiếng lòng thổn thức.” Trong viễn tượng Cựu Ước, người chết xuống âm ti phải sống một đời sống trì trệ, đờ đẫn, không thể ca ngợi Thiên Chúa. Bài ca của vua Khít-ki-gia đã lột tả sự bất lực này: “Vì trong chốn tử vong, không người ca tụng Chúa, và trong nơi âm phủ, chẳng ai ngợi khen Ngài. Kẻ xuống mồ cũng dứt niềm trông cậy vào lòng Chúa tín trung.” (Is 38,18) [5]. Kẻ đã chết không thể tự làm được gì, dự định tiêu tan theo cát bụi (Tv 145). Họ không thể tự van xin hay dâng lời ngợi khen để tự giải thoát mình; họ hoàn toàn bất lực và chỉ còn biết trông chờ vào tình thương của Thiên Chúa và lời chuyển cầu của người còn sống.
Thánh Tô-ma A-qui-nô trong tác phẩm Tổng luận Thần Học đã đưa ra nhận định sâu sắc về vị thế của các linh hồn trong Luyện ngục: Mặc dù các linh hồn ở trong Luyện ngục cao trọng hơn chúng ta do tính không thể phạm tội, nhưng về phương diện chịu đau khổ, họ ở tình trạng dưới chúng ta. Họ không ở trong tình trạng có thể tự cầu nguyện cho mình, đúng hơn là chúng ta phải cầu nguyện cho họ. [6]
Mầu nhiệm các Thánh cùng thông công
Bản chất của Giáo hội là sự Hiệp thông (Communio). Thánh Âu Tinh khẳng định rằng linh hồn của những người hiếu trung không bị tách ra khỏi Hội thánh [7]. Trong Kinh Tin Kính, khi tuyên xưng mầu nhiệm “các thánh thông công”, chúng ta khẳng định sự liên kết chặt chẽ giữa ba trạng thái của Giáo hội:
Hội Thánh Lữ Hành: Những tín hữu còn đang chiến đấu trên trần gian.
Hội Thánh Đau Khổ: Các linh hồn đang chịu thanh luyện.
Hội Thánh Khải Hoàn: Các thánh đang hưởng hạnh phúc trên Thiên Đàng.
Vì tất cả hợp thành một Thân Thể duy nhất trong Đức Ki-tô, nên điều thiện hảo của người này được truyền thông cho người khác [8]. Lời cầu nguyện, các việc hy sinh bác ái, và đặc biệt là Thánh lễ dâng lên vì linh hồn Thầy Si-môn Ngô Quang Trung có sức mạnh chuyển cầu vô cùng to lớn. Ngược lại, khi linh hồn Thầy đạt tới vinh phúc viên mãn nhờ tình thương của Chúa và lời cầu nguyện của chúng ta, Thầy cũng sẽ trở thành người chuyển cầu hiệu quả cho những người thân yêu và bạn hữu còn ở lại giữa sóng gió trần gian.
Lời kết
Sự ra đi của Thầy Chủng sinh Si-môn Ngô Quang Trung là một lời nhắc nhớ khắc nghiệt nhưng đầy thức tỉnh về tính chất mỏng giòn của kiếp bụi đất. Nó buộc chúng ta phải giật mình dừng lại giữa những xô xát, hơn thua của cuộc sống thường nhật. Cái chết tước đi sự sống thể xác, nhưng không thể dập tắt tình yêu và sự liên đới thiêng liêng. Cầu nguyện cho Thầy Si-môn chính là nhịp cầu tình nghĩa kết nối hai bờ cõi sống - chết. Xin cho những đắng cay của sự chia ly này trở thành một khoảng trầm thức tỉnh tâm hồn, thôi thúc mỗi người chúng ta biết trân trọng từng phút giây hiện tại, sống tha thiết hơn, biết yêu thương và trao tặng bản thân cho Chúa và cho nhau ngay trong ngày hôm nay.
Lạy Chúa, xin cho linh hồn này được nghỉ yên muôn đời, và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên linh hồn ấy. Xin cho linh hồn này được nghỉ ngơi an bình. Amen.
Requiem aeternam dona ei, Domine, et lux perpetua luceat ei. Requiescat in pace. Amen.
Đức Hữu
[1] Thánh Âu Tinh, Tự Thuật (Confessiones), IX.11.
[2] Giáo lý Hội thánh Công giáo (GLCG), số 1030.
[3] Xem thêm 2Mcb 12,43-45 và 2Tm 1,16-18 về nguồn gốc Cựu Ước và Tân Ước của việc cầu nguyện cho người chết.
[4] Tông Huấn Giáo Lý Ân Xá (Indulgentiarum Doctrina), số 3.
[5] Xem thêm Sự Chết Đối Với Các Tổ Phụ, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2012, tr. 127.
[6] Thánh Tô-ma A-qui-nô, Summa Theologiae, II-II, q.83, a.11.
[7] Thánh Âu Tinh, Thành đô Thiên Chúa (De Civitate Dei), XX.9.
[8] Giáo lý Hội thánh Công giáo (GLCG), các số 947, 958, 959.
Những tin cũ hơn
Cuộc Ra Đi Nhanh Chóng!
Giáo xứ Dũng Lạc: Chầu Thánh Thể
VHTK Thánh Phêrô Lê Tùy, Lm, ngày 11.10
VHTK Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, ngày 11.10
VHTK thánh Dionysio và các bạn tử đạo, ngày 09.10
VHTK LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI Ngày 7 tháng 10
VHTK CHÚA NHẬT 28 TN A
Bắt cá hai tay
Thiếu nhi VHTK CHÚA NHẬT 28 TN A
Magnificat – Lễ Đức Mẹ Mân Côi
Mácta không bị trách móc
Giáo xứ Vinh Quang khai mạc tháng Mân Côi
Nước Mặn và chữ Quốc ngữ qua dòng thời gian
Bước chân lời kinh
Hãy năng lần hạt Mân Côi
Hồi chuông buồn
Hãy đi và làm như vậy
277 Câu Trắc Nghiệm GIÁO LÝ DỰ TÒNG
Nghi thức lễ Gia Tiên
Vui Học Giáo Lý 531 Câu Trắc Nghiệm XƯNG TỘI & RƯỚC LỄ 1
Thánh lễ Truyền chức Linh Mục -2023
Khai mạc Hội nghị thường niên kỳ I/2023
Biên bản Hội nghị thường niên kỳ I/2023
Tân linh mục Phêrô Nguyễn Tiến Đạt: Thánh lễ tạ ơn
Việt Nam và Tòa Thánh ký kết Thỏa thuận
Giáo xứ Phúc Lộc -Mừng lễ Thánh Đa Minh
Giáo xứ Phúc Lộc: Lễ Chúa Ba Ngôi