Đức Giê-su Ki-tô – Đường sáng tạo

Sáng tạo được diễn tả qua những tư duy độc đáo, những phát minh hữu ích, những cải biến trổi vượt trong khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng như nhiều hình thức khoa học khác.

ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ – ĐƯỜNG SÁNG TẠO


 

WHĐ (03.9.2022) – Trong những thập niên gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, từ ‘sáng tạo’ được sử dụng khá nhiều, chẳng hạn như đất nước sáng tạo, dân tộc sáng tạo, con người sáng tạo, con vật sáng tạo, máy móc sáng tạo, công cụ sáng tạo. Do vậy, thật khó để đưa ra một định nghĩa bao quát và ngắn gọn về sáng tạo. Theo nghĩa chung nhất, sáng tạo được hiểu như là việc con người vận dụng các quy luật tự nhiên để làm nên những sản phẩm mới mẻ, phù hợp hơn với nhu cầu xã hội, hầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Sáng tạo được diễn tả qua những tư duy độc đáo, những phát minh hữu ích, những cải biến trổi vượt trong khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng như nhiều hình thức khoa học khác. Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta nhận thức rằng ‘nồng độ tri thức’ trong các sản phẩm do con người tạo ra càng ngày càng cao. Hơn nữa, tri thức của con người không chỉ có tính kế tục mà còn có tính phát triển với tốc độ càng ngày càng nhanh và mạnh hơn. Tuy nhiên, sáng tạo của con người không phải là vô hạn bởi vì có rất nhiều thứ con người muốn nhưng không thể làm được. Đặc biệt, con người không thể sáng tạo được ‘cái gì đó’ (something) từ ‘không có cái gì’ (nothing).

Theo mặc khải Ki-tô Giáo, trong tiếng Do-thái, בָּרָא (bara) có nghĩa là sáng tạo: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất” (St 1,1). Sáng tạo bao gồm hành động và đối tượng hay hiệu quả của hành động đó. Thiên Chúa sáng tạo trời đất và muôn vật muôn loài từ hư vô (ex nihilo: St 1,1-2; Tv 33,6; Is 44,24; 2 Mcb 7,28; Ga 1,3; Cl 1,16; Dt 2,10), từ không hiện hữu đến hiện hữu (from non-existence to existence). Sáng tạo từ hư vô được diễn tả qua ngôn ngữ biểu tượng trong sách Sáng Thế là sáng tạo lúc chỉ có sự ‘trống rỗng’, lúc ‘chưa có hình dạng’ của bất cứ cái gì, lúc ‘bóng tối bao trùm vực thẳm’. Thánh I-rê-nê (130-202) khẳng định rằng, với ý muốn và quyền năng của Người, Thiên Chúa đã tạo nên mọi sự từ không có cái gì hiện hữu trước đó (St. Irenaeus, Against Heresies, Book II, Chapter 10,2). Thánh Au-gút-ti-nô (354-430) cũng giải thích tương tự. Sáng tạo từ hư vô là mặc khải quan trọng trong Do-thái Giáo cũng như Ki-tô Giáo, phân biệt với nhãn quan của Aristotle (384-322 trCN) hay một số triết gia Hy-lạp khác. Đối với họ, từ ‘không’ đến ‘có’ là điều không thể hiểu được đối với trí năng con người. Đó là lý do tại sao họ cho rằng vũ trụ luôn tồn tại, vũ trụ là vĩnh cửu.

Ba điểm căn bản liên quan đến chương trình sáng tạo của Thiên Chúa theo nội dung đức tin Ki-tô Giáo: (1) Thiên Chúa không cần bất cứ thứ gì có trước hay sự trợ giúp nào đó để sáng tạo mọi sự mà sáng tạo chúng từ hư vô; (2) Mọi sự được sáng tạo mà không xuất phát từ bản thể Thiên Chúa; (3) Thiên Chúa không tất yếu phải sáng tạo; Người hoàn toàn tự do sáng tạo hay không (Công Đồng Vatican I, DS 3022-3025; GLGHCG 296). Lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a giúp chúng ta hiểu thêm về điều này: “Chính Ta là Đức Chúa đã dựng nên vạn vật, một tay Ta đã căng vòm trời, đã trải rộng trái đất, chẳng cần ai giúp đỡ” (Is 44,24). Theo thánh Tô-ma A-qui-nô, sáng tạo nghĩa là tạo ra điều gì đó từ hư vô (ST, Ia, q.45. art 2). Đồng thời, thánh nhân cũng khẳng định rằng muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo liên quan mật thiết với nhau vì đều được Thiên Chúa sáng tạo (ST, Ia, q.45. art 3). Thánh nhân khẳng định rằng chỉ có đức tin đặt nền tảng trên mặc khải của Thiên Chúa, chứ không phải lý trí, cho chúng ta biết vũ trụ không phải vĩnh cửu, không luôn luôn hiện hữu (ST I, Q.46, a.2, a.2). Điều này cũng được tác giả thư gửi tín hữu Do-thái diễn tả: “Nhờ đức tin, chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi lời của Thiên Chúa; vì thế, những cái hữu hình là do những cái vô hình mà có” (Dt 11,3).

Nhờ đào sâu mặc khải của Thiên Chúa, các giáo phụ đã khai sinh thần học sáng tạo, hình thức thần học cho phép con người hiểu rõ hơn về tương quan giữa con người với Thiên Chúa và với muôn vật muôn loài. Theo thánh Ba-xi-li-ô Cả (329-379), trong tương quan giữa Ba Ngôi Thiên Chúa và công trình sáng tạo: Chúa Cha là nguyên nhân cội nguồn (the orginial cause) của muôn vật muôn loài; Chúa Con là nguyên nhân sáng tạo (the creative cause: Người được sinh ra từ trước muôn đời, là Lời hằng sống, là Đấng Tạo Hóa chứ không phải thụ tạo, nhờ Người, muôn vật muôn loài được tạo thành); Chúa Thánh Thần là nguyên nhân làm cho muôn vật muôn loài được hoàn hảo (the perfecting cause). Thánh nhân nhấn mạnh rằng ý định của Chúa Cha luôn được thực hiện qua Chúa Con trong sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, theo thánh nhân, Ba Ngôi luôn hiện diện và hoạt động cùng nhau trong mọi hoàn cảnh và công việc của Ba Ngôi đều toàn thiện, toàn mỹ (St. Basile, on the Holy Spirit, Chapter XVI, 38). Khi đề cập việc sáng tạo con người, thánh I-rê-nê (130-202) viết rằng con người (hồn và xác) được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa bởi ‘đôi tay’ của Người là Chúa Con và Chúa Thánh Thần (Against Heresies, Book IV, Preface và Book V, 6.1). Trong Cựu Ước, tác giả Thánh Vịnh 139 viết: “Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con. Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu! Hồn con đây biết rõ mười mươi” (Tv 139,13-14).

Hành trình khám phá nội dung mặc khải Kinh Thánh của các giáo phụ và các thần học gia qua dòng lịch sử giúp chúng ta nhận thức rằng luôn có sự hiệp thông giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong đời sống nội tại (ad intra) cũng như trong hoạt động ngoại tại (ad extra) là công trình sáng tạo, cứu độ và thánh hóa. Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo khẳng định: “Sự thống nhất không thể tách rời giữa hành động sáng tạo của Chúa Con và Chúa Thánh Thần với hành động sáng tạo của Chúa Cha đã được thoáng thấy trong Cựu Ước… Sáng tạo là công trình chung của Ba Ngôi Chí Thánh” (GLGHCG 292). Đặc biệt, theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: “Tuy công trình sáng tạo được coi là của Chúa Cha, nhưng chân lý đức tin cũng dạy: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là nguyên lý duy nhất và không thể phân chia được của công trình sáng tạo” (GLGHCG 316). Nói cách khác, sáng tạo là hành động của Chúa Cha qua Chúa Con trong Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, khi muốn quy một hoạt động chung cho một Ngôi Vị cách đặc biệt, biểu trưng, chúng ta thường nói Chúa Cha sáng tạo, Chúa Con cứu độ, Chúa Thánh Thần thánh hóa.

Trở lại với mặc khải Kinh Thánh, sách Sáng Thế chương một cho chúng ta biết rằng con người là đỉnh cao của chương trình Thiên Chúa sáng tạo. Bởi vì, trước hết, Thiên Chúa sáng tạo mọi sự cho con người. Sau đó, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1,26-27). Sách Sáng Thế chương hai cho chúng ta biết rằng con người là trung tâm của chương trình Thiên Chúa sáng tạo: “Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra” (St 2,8). Đặc biệt, “Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai” (St 2,15). Sách Sáng Thế chương ba cho chúng ta biết con người đã vô ơn, kiêu ngạo, phạm tội (St 3,1-7). Công trình sáng tạo của Thiên Chúa đã bị con người phá vỡ, xáo trộn trật tự, đánh mất sự hài hòa. Tuy nhiên, Thiên Chúa hằng yêu thương con người và hứa ban ơn cứu độ (St 3,15). Kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa đối với con người không gián đoạn nhưng tiếp tục sau khi con người phạm tội, bởi vì Thiên Chúa đã chúc lành thiết lập giao ước với con người sau Hồng Thủy (St 9,1-17). Lời chúc lành được bắt đầu và kết thúc với những ‘công thức’ như: ‘Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều’, ‘cho đầy mặt đất’, và ‘chúng được trao vào tay các ngươi’ (St 1,28; St 9,1-7). Đối chiếu với cuộc sáng tạo lần thứ nhất trong sách Sáng Thế chương một và chương hai, các nhà chú giải Kinh Thánh cho rằng những lời trên trở nên dấu chỉ cho thấy Hồng Thủy là một cuộc ‘sáng tạo mới’. Bởi vì, Thiên Chúa nói với Nô-ê: “Đây là dấu hiệu giao ước Ta đặt giữa Ta với các ngươi, và với mọi sinh vật ở với các ngươi, cho đến muôn thế hệ mai sau: Ta gác cây cung của Ta lên mây, và đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa Ta với cõi đất. Khi Ta cho mây kéo đến trên mặt đất và cây cung xuất hiện trong mây, Ta sẽ nhớ lại giao ước giữa Ta với các ngươi, và với mọi sinh vật, nghĩa là với mọi xác phàm; và nước sẽ không còn trở thành hồng thủy để tiêu diệt mọi xác phàm nữa. Cây cung sẽ ở trong mây. Ta sẽ nhìn nó để nhớ lại giao ước vĩnh cửu giữa Thiên Chúa với mọi sinh vật, nghĩa là với mọi xác phàm ở trên mặt đất" (St 9,12-16).

Trong Cựu Ước, ngoài sách Sáng Thế, chủ đề sáng tạo còn được trình bày cách đặc biệt trong các sách khôn ngoan (Gióp, Thánh Vịnh, Châm Ngôn, Giảng Viên, Diễm Ca, Khôn Ngoan, Huấn Ca). Trong đó, Khôn Ngoan hay Đức Khôn Ngoan (σοφία/ sophia) là vĩnh cửu như Thiên Chúa là Đấng vĩnh cửu, chẳng hạn: “Nguồn gốc cao sang của mình, Đức Khôn Ngoan làm rạng ngời vinh hiển, bởi Đức Khôn Ngoan luôn sống cùng Thiên Chúa; và Chúa Tể muôn loài vẫn hằng yêu quý Đức Khôn Ngoan” (Kn 8,3); “Đức Khôn Ngoan ở kề bên Chúa, biết những việc Chúa làm, hiện diện khi Ngài tạo thành vũ trụ, biết rõ những gì đẹp mắt Chúa và phù hợp với huấn lệnh của Ngài” (Kn 9,9); “Đã có ta hiện diện khi Người thiết lập cõi trời, khi Người vạch một vòng tròn trên mặt vực thẳm, khi Người làm cho mây tụ lại ở trên cao và cho các mạch nước vọt lên từ vực thẳm, khi Người định ranh giới cho biển, để nước khỏi tràn bờ, khi Người đặt nền móng cho đất” (Cn 8,27-29). Đức Khôn Ngoan tồn tại trước muôn vật muôn loài và nhờ Đức Khôn Ngoan, Thiên Chúa sáng tạo muôn vật muôn loài: “Đức Chúa dùng khôn ngoan đặt nền cho trái đất, dùng hiểu biết thiết lập các tầng trời. Nhờ tri thức của Người, vực sâu được khai mở và mây trời đổ mưa” (Cn 3,19-20); “Ta [Đức Khôn Ngoan] hiện diện bên Người như tay thợ cả. Ngày ngày ta là niềm vui của Người, trước mặt Người, ta không ngớt vui chơi, vui chơi trên mặt đất, ta đùa vui với con cái loài người” (Cn 8,30-31); “Nếu như con người vận dụng trí thông minh mà làm nên việc này việc nọ, thì hỏi có ai hơn được Đức Khôn Ngoan là tay thợ đã làm nên tất cả?” (Kn 8,6). Những trích đoạn này cho chúng ta nhận thức rằng Khôn Ngoan hay Đức Khôn Ngoan được ngôi vị hóa hay nhân cách hóa (personification) như là bước quan trọng chuẩn bị cho mặc khải về Đức Giê-su là Khôn Ngoan Nhập Thể hay Lời (Λόγος/ Logos) Nhập Thể của Thiên Chúa.

Chủ đề sáng tạo tiếp tục được đào sâu và diễn tả cách cụ thể hơn trong Tân Ước. Những câu đầu tiên của Tin Mừng Đức Giê-su theo thánh Gio-an cho chúng ta biết điều này: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (Ga 1,1-4). Chúng ta thấy sự tương đồng giữa trình thuật của thánh Gio-an về Ngôi Lời của Thiên Chúa trong trích đoạn này và Khôn Ngoan hay Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa trong những trích đoạn ở trên. Đặc biệt, theo thánh Gio-an: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1,14). Đức Giê-su là Khôn Ngoan, là Lời sáng tạo của Thiên Chúa. Điều này đã được tiên báo trong Cựu Ước: “Chúa dùng lời Chúa mà tác thành vạn vật, dùng sự khôn ngoan Chúa mà cấu tạo con người, để con người làm chủ mọi loài Chúa dựng nên” (Kn 9,1-2). Như vậy, các trình thuật Cựu Ước và Tân Ước giúp chúng ta nhận thức rằng muôn vật muôn loài không phải là sản phẩm của ngẫu nhiên, của những biến đổi may rủi hay của các quyền lực đối nghịch mà là hoa trái của tình yêu Thiên Chúa sáng tạo nhờ Khôn Ngoan cũng là Lời vĩnh cửu của Người.

Ngôi Lời của Thiên Chúa tiếp tục chương trình sáng tạo trong dòng lịch sử bằng sự tái tạo, phục hồi và hoàn thiện những gì bị đổ vỡ và hư hỏng do tội lỗi. Biến cố Đức Giê-su là Ngôi Lời Nhập Thể được xem là biến cố sáng tạo mới, sáng tạo đạt đỉnh điểm. Bởi vì, trong biến cố này, Đức Giê-su vốn dĩ là Thiên Chúa đã trở thành con người, giống con người mọi sự, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4,15). Vũ trụ chết chóc, ảm đạm vì tội lỗi sau biến cố sa ngã của Nguyên Tổ nay trở nên sinh động trở lại, mới mẻ và tốt đẹp hơn nhờ Ngôi Lời của Thiên Chúa ‘đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta’. Với Biến Cố Nhập Thể, Đức Giê-su diễn tả Người là con người thật và Thiên Chúa thật. Đặc biệt, nhờ Đức Giê-su, con người nhận biết Thiên Chúa cách thích hợp và hoàn hảo hơn: “Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1,18). Sự hiện diện của Đức Giê-su lịch sử là sự hiện diện đầy tính sáng tạo. Đây là sự hiện diện phục hồi và quy tụ tất cả những tinh hoa tốt đẹp của lịch sử thế giới thụ tạo, đồng thời mở ra chương mới cho con người và muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo. Chính Đức Giê-su trong mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Độ đã tỏ bày ý nghĩa sâu xa và đầy đủ của mầu nhiệm Thiên Chúa sáng tạo, đồng thời, chỉ cho con người biết cách thức và lý do để cộng tác vào chương trình sáng tạo.

Trong hành trình loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su diễn tả việc Thiên Chúa tiếp tục quan tâm, chăm sóc muôn vật muôn loài đã được sáng tạo, chẳng hạn như Người nói: “Năm con chim sẻ chỉ bán được hai hào, phải không? Thế mà không một con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa” (Lc 12,6) hay: “Hãy nhìn hoa huệ mà suy: Chúng không kéo sợi, không dệt vải, thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: Ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy” (Lc 12,27). Trong Cựu Ước, chúng ta cũng gặp nhiều trích đoạn diễn tả tình yêu của Thiên Chúa đối với muôn vật muôn loài, chẳng hạn: “Hết mọi loài ngửa trông lên Chúa đợi chờ Ngài đến bữa cho ăn. Ngài ban xuống, chúng lượm về, Ngài mở tay, chúng thoả thuê ơn phước. Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi; lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi” (Tv 104,27-29). Hơn ai hết, Đức Giê-su sống hòa hợp với thế giới thụ tạo, chẳng hạn như sau khi Người dẹp yên biển động, mọi người ngạc nhiên và thốt lên: “Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?” (Mt 8,27). Đức Giê-su đề cao tầm quan trọng của thế giới thụ tạo trong việc nuôi dưỡng con người: “Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì các ông lại bảo: Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” (Lc 7,34). Hơn nữa, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, trong Bữa Ăn Cuối Cùng, Đức Giê-su đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Trong việc cử hành bí tích này, bánh và rượu (hoa màu ruộng đất và công lao của con người) trở thành Mình và Máu thánh Đức Giê-su hầu nuôi dưỡng đời sống tâm linh của các tín hữu trong hành trình trần thế.

Nếu chúng ta hiểu ‘sáng tạo’ là biến đổi hay đem lại những gì mới mẻ hầu nâng cao phẩm giá và chất lượng cuộc sống con người thì hơn ai hết, Đức Giê-su là ‘con người sáng tạo’. Hành trình trần thế của Người có thể được gọi là ‘hành trình sáng tạo’. Bởi vì, mọi lời nói và việc làm của Đức Giê-su luôn đem lại sự đổi mới nơi con người, chẳng hạn như khi Người chữa bệnh cũng là khi Người khôi phục sức sống cho bệnh nhân; khi Người trừ quỷ cũng là khi Người xua đuổi quyền lực ma quỷ, quyền lực tối tăm ra khỏi nạn nhân; khi Người tha tội cũng là khi Người đem lại sự tươi mới cho tâm hồn người tội lỗi; khi Người chọn Nhóm Mười Hai cũng là khi Người thiết lập Giáo Hội là Ít-ra-en mới; khi Người công bố những tiêu chuẩn luân lý mới cũng là khi Người kiện toàn lời của Thiên Chúa đã được diễn tả trong Cựu Ước. Những hình ảnh hay tước hiệu của Đức Giê-su đều có thể mang ý nghĩa ‘sáng tạo’, chẳng hạn như chúng ta có thể nói rằng Đức Giê-su là Thầy Dạy sáng tạo, Mục Tử sáng tạo, Con Chiên sáng tạo, Chàng Rể sáng tạo, Đầy Tớ sáng tạo, Người Bạn sáng tạo, Trưởng Tử sáng tạo. Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su cho các môn đệ biết rằng Người là Đường và rằng không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Người (Ga 14,6). Đường của Đức Giê-su là Đường Sáng Tạo. Bởi vì, nhờ Đức Giê-su, muôn vật muôn loài được dựng nên, được duy trì và được biến đổi cho sự hoàn hảo chung cuộc. Đặc biệt, nhờ Đức Giê-su, con người được hiện hữu và hoạt động, được thứ tha tội lỗi và được biến đổi, trở nên thụ tạo mới.

Đường Sáng Tạo của Đức Giê-su khi Người đi vào lịch sử nhân loại được thực hiện qua sự vâng phục đến nỗi bằng chịu đau khổ tột bậc. Trong sách Sáng Thế, sau khi con người phạm tội vì bất tuân, Thiên Chúa nói với con người: "Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: ‘Ngươi đừng ăn nó’, nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra” (St 3,17-19). Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta