ĐỜI ĐỘC THÂN LINH MỤC - Bài 6, Bài 7

“SỎI ĐÁ CŨNG CẦN CÓ NHAU”
VÀ ĐỜI ĐỘC THÂN LINH MỤC
1. Tất cả đều có đôi
2. Tính dục mầu nhiệm
3. Khám phá lại thân xác
4. Độc thân như một đề nghị từ Tin Mừng
5. Độc thân như một dấn thân của đời linh mục
6. Mẻ lưới rỗng và mẻ lưới đầy
7. Chỉ tình yêu của Đức Kitô thúc bách.
Linh mục với tính dục: Trao hiến và Phục vụ
Thiên Chúa dựng nên con người có đôi. Người nam và người nữ được “làm ra” tách biệt nhưng không đối nghịch. Họ khác biệt để hướng về nhau, bổ túc cho nhau. Họ xuất hiện như một “cặp biện chứng”. Số phận người này phụ thuộc người kia.
Vẻ đẹp của thân xác và tâm hồn của cả hai giới trên là sức hút và lôi cuốn cho nhau. Hai người được tạo dựng để trở thành quà tặng cho nhau. Hai người được tạo dựng để trở thành “quà tặng” cho nhau, như là những-nhân-vị-không-thể-thay-thế, không-thể-sao-chép. Ở trước mặt nhau như là đối tượng khác biệt, nhưng lại có xu hướng sâu thẳm hòa nhập để trở thành cặp đôi vĩnh viễn không thể xa lìa.
Linh mục là con người như mọi người. Linh mục đi tìm “nửa mình” nơi mọi người nam-nữ, đặc biệt, nơi Đức Kitô ở trong mọi người nghèo khổ.
Lý tưởng đó được theo đuổi và thực hiện bởi hàng triệu triệu người nam-nữ, qua các thế hệ, thời đại từ hơn hai ngàn năm nay. Đáp lại lời mời gọi của Đức Kitô trong Tin Mừng, họ đã tự nguyện chọn “nếp sống độc thân”, như phương thế hữu hiệu để phục vụ các linh hồn. Thành công hay thất bại, tùy thuộc vào sự trung thành của họ với lời mời gọi của Đức Kitô.
Đôi dòng tóm lược những ý chính của 7 Bài giảng cho các linh mục Giáo phận Ban Mê Thuột, trong Tuần Tĩnh Tâm thường niên từ 9.11.2020 đến 13.11.2020, do Đức Cha Louis Nguyễn Anh Tuấn, Giám mục Phụ tá Tổng Giáo phận Sài Gòn, hướng dẫn.
Bài 6
MẺ LƯỚI RỖNG VÀ MẺ LƯỚI ĐẦY
Đọc Ga 21,1-11
Cần một lý tưởng
1. Chúng ta để ý tới tâm trạng của 7 người môn đệ trong trình thuật này. Họ không còn thất vọng nhưng đã thấy vui mừng vì được gặp gỡ Chúa Giêsu phục sinh. Mỗi người đã lấy lại được niềm tin, cậy và sự thanh bình. Thế nhưng, họ vẫn còn loạng choạng chưa có được một định hướng và dự phóng nào trong tư thế như là của một Hội thánh. Khi ấy các ngài bắt đầu bị cuốn trở lại với cuộc sống nghề nghiệp thuở ban đầu trước đó. Chưa có được trao phó minh nhiên một nhiệm vụ Hội Thánh, họ quay lại với công việc nghề nghiệp một thời của họ, trở về đó trong lòng vẫn chưa có một xác tín, như một người thấy không có gì tốt hơn để làm.
Đó là tình trạng thiêng liêng của những người một thời đã có một lí tưởng sống cụ thể hấp dẫn mà họ đang dấn thân, nhưng rồi đã để cho một chuỗi những thất vọng và mệt mỏi chán nản làm phai nhạt đi. Tình trạng đó sẽ tệ hại vì có thể từ đó họ dần dần trở lại với những lối suy nghĩ, những sở thích, những công việc của thế gian.
2. Các môn đệ này dù đã nghe Đấng phục sinh nói: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20, 21), tức là đã có một “sứ vụ”, nhưng như đang ở trong đám mây mù dày đặc họ chưa thấy trong thực tế con đường phải đi. Chúng ta cũng đôi khi rơi vào tâm trạng này, mong chờ “những dấu chỉ” chỉ đến điều cần phải làm cụ thể. Khi gặp phải kinh nghiệm này ta cần cầu nguyện, xin Chúa cứu gỡ ta khỏi sự nóng vội mất kiên nhẫn, ngã lòng, cám dỗ buông mình cho tính bốc đồng, hay cứ ngần ngại mãi.
Sự hiệp thông Hội thánh là điều quan trọng
3. Simon Phêrô nói: “Tôi đi đánh cá đây” (Ga 21, 3). Đó là một sáng kiến cá nhân chỉ liên hệ đến bản thân Simon, với lời nói đó ông không thi hành một quyền bính nào và không áp đặt quyền uy trên ai cả. Những người bạn kia đáp lại: “Chúng tôi cùng đi với anh”. Trong khi không biết làm gì, họ chỉ theo đuôi cùng tham gia với Simon. Kết quả của lối hành động tự do độc lập này là “họ không bắt được gì cả”. Họ là những người chuyên nghề thuyền chài, ở đây xem ra họ có vẻ hành động bộc phát và tài tử nhưng không có Chúa Giêsu ở cùng, họ không có một khởi nguyên qui tụ lại trong một mối hiệp thông duy nhất.
Có thể nhận thấy ở đây ngôn ngữ biểu tượng của người kể chuyện hàm ý điều quan trọng là: phải có tính Hội Thánh (được Chúa kêu gọi, qui tụ, và được sai đi) công việc của ta mới mang tính sứ vụ và phát sinh hiệu quả. Tự chúng ta, những chiến binh tự do, dù có khéo léo giỏi giang, thông minh, tốt lành cách mấy, cũng không thể làm được gì hay ho ý nghĩa. Chúng ta có thể lên những kế hoạch, đề ra những lí thuyết, viết nhiều sách vở, sáng lập các cộng đoàn; nhưng nếu chúng ta không hiệp thông trọn vẹn trong “Thân mình Chúa Kitô”, chúng ta sẽ không hoàn tất được gì đáng giá trị trước mặt Chúa.
Một ơn huệ ta cần phải cầu xin, đó là: được luôn sống trong Thân mình Hội Thánh, mà Đức Kitô là Đầu, là khởi nguyên sự sống và là nguồn mạch năng lượng của chúng ta. Chúng ta đừng để rơi vào cám dỗ ảo tưởng rằng mình có thể xây dựng Hội Thánh bằng những sáng kiến riêng và những “sự thật” cỏn con của mình, thay vì phải luôn phát xuất từ sự gặp gỡ với Chúa hiện diện trong Hội Thánh và từ sự hiệp thông liên vị phát sinh từ sự hiện diện này.
Chiếc lưới không rách
4. “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá” (Ga 21,6). Ở đây họ có Chúa Giêsu, Người truyền lệnh và họ làm theo, kết quả là: “họ không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá”. Cả Simôn Phêrô cũng thay đổi: “ông Simôn Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ” (Ga 21, 11). Simôn bây giờ không còn chỉ là một cá nhân tự mình hành động, mà là một Phêrô thủ lãnh hành động với quyền bính và quyết định thay mọi người. Ở đâu có Chúa Giêsu, ở đó có Hội Thánh cùng với các thừa tác viên với những trách nhiệm được giao phó; và ở đâu có Hội Thánh thì ở đó có sự phong nhiêu, nghĩa là sự sống triển nở dồi dào.
Tác giả Phúc âm lưu ý cẩn thận: “Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con” (Ga 21, 11). Các nhà chú giải có nêu giải thích con số chính xác một trăm năm mươi ba con cá này. Đó là con số các loài cá mà tri thức thời cổ đại bấy giờ biết tới. Và tác giả nêu con số ấy có ý diễn tả tính phổ quát của sứ vụ tông đồ: Hội Thánh nhằm tới “lưới bắt” tất cả mọi người, tức là sự cứu rỗi của mọi người. Không một biên giới về xã hội, sắc tộc, văn hóa nào có thể cản trở người ta bước vào “lưới” ơn cứu độ.
Người ta cũng nhận thấy với lời giải thích này của chương bổ túc của Phúc âm Gioan có một liên kết tương ứng của Phúc âm thứ tư với ba Phúc âm Nhất lãm ở phần kết thúc, khi nói đến sứ vụ được sai đi đến với “mọi dân tộc” (Mt 28,19) đi “khắp tứ phương thiên hạ và “cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16, 15), với “muôn dân” (Lc 24,47), “đến tận cùng trái đất” (Cv 1, 8).
5. “Lưới không bị rách” (Ga 21, 11): một sự may mắn chăng? Vì lẽ ra lưới vốn vô dụng ấy phải rách vì đầy cá như thế trong lần đánh bắt thứ hai nhọc nhằn đến kiệt sức sau một đêm.
Câu phúc âm ấy mang một ý nghĩa biểu tượng rõ ràng: cho dù sứ vụ được giao phó có lớn lao và không tương xứng với tầm vóc và sức lực nhỏ bé của mình, Hội Thánh vẫn cố gắng kiên trì đảm nhận, và sau cùng sẽ là khí cụ hữu hiệu mang ơn cứu độ cho con người.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
Với hiệu quả của hiến tế và sức mạnh của vinh quang Chúa,
Xin hợp nhất, gìn giữ và phát triển gia đình các tín hữu Chúa,
Xin cho chúng con ngày càng hiểu biết và yêu mến Hội Thánh Chúa,
Là bí tích kì diệu của ơn cứu độ cho hết mọi người.
Chớ gì trong cuộc sống chúng con biết nhận ra và tôn kính
những đặc nét của dung mạo Hội Thánh Người:
Những điều vẫn được tuyên xưng trong Tin Kính
Chúng con cần biến thành cuộc sống,
Hội Thánh Chúa duy nhất:
Vì mỗi chia rẽ là một tấn công vào chính bản chất
thâm sâu của Hội Thánh Chúa:
Xin giữ chúng con luôn thành tâm gắn kết hiệp nhất với Người,
nhờ tất cả đón nhận cùng một chân lí giải thoát cứu độ.
Hội Thánh Chúa thánh thiện:
Bởi Thánh Thần Thiên Chúa tác sinh Người,
nuôi dưỡng Người bằng chân lí và ân điển thần linh,
kết thân Người với Chúa, là Đầu và là Chúa tể của Người:
Xin cho lòng chúng con luôn thao thức mong mỏi được về
Quê hương sống gần bên và kết hợp với Chúa.
Hội Thánh Chúa công giáo:
Bởi Người là nhà của cả gia đình nhân loại;
nhân tính là phận của Người trong trần thê.
Xin cứu gỡ chúng con khỏi mọi thứ tinh thần nhỏ nhen,
văn hóa phân biệt giai cấp, sắc tộc hẹp hòi;
và cởi mở chúng con thân thiện với mọi người,
muốn đón nhận Tin Mừng và luật sống Tin Mừng,
những người sẵn lòng tiếp nhận và trân quí mọi giá trị chân thật.
Hội Thánh Chúa tông truyền:
Bởi đứng trên nên móng đặc sủng Phêrô và các Tông đồ:
Xin đừng để chúng con, vì thiếu tuân phục vẹn toàn,
mà lìa xa Hội Thánh phẩm trật Người bao giờ,
chỉ vì một thiếu sót hòa hợp tự nhiên,
hay bởi một hiểu lầm nào đó luôn khả hữu,
và không hề nản lòng hay e sợ,
xin phục hồi mỗi ngày niềm tin “chiếc lưới không bị rách”;
niềm trông cậy chúng con đặt vào Hội Thánh
và công trình của Người giữa nhân gian mà Chúa an bài.
Amen.
Chúa Kitô hiện diện trong Hội Thánh
6. “Chúa đó” (Ga 21, 7) người môn đệ Chúa yêu mến đã hứng khởi thốt lên như thế lập tức chạm tới Phêrô và lan đến những người khác. Họ không chỉ nhận ra Đức Giêsu mà còn nhận ra Người như là “Đức Chúa”, nghĩa là Đấng duy nhất mà họ phải vâng phục tuyệt đối và vô điều kiện.
Chúa Giêsu đứng đó, trên bờ hồ trước mắt họ, cả trong thời gian các ông thực hiện mẻ lưới thất bại cũng như trong lúc diễn ra mẻ cá phong nhiêu. Như đã thấy, trong mẻ lưới đầu tiên các ông thực hiện theo tư cách cá nhân, dựa trên sáng kiến riêng tư; còn trong mẻ lưới thứ hai, các vị đã vâng theo lời mời gọi của Đức Kitô. Trong việc thứ nhất, các ông chỉ là một nhóm người như mọi tập thể con người; trong công việc thứ hai họ là một cộng đoàn Giáo hội.
Một điều quan trọng nữa, đó là: trong công việc thứ nhất, khi không là Giáo hội họ không nhận ra sự thật Chúa Giêsu hiện diện (“họ không nhận ra đó chính là Chúa Giêsu”, c. 4); còn trong công trình thứ hai, khi đã là Hội Thánh Chúa các ngài nhận ra Người: “Chúa đó!”.
Chúa Giêsu luôn ở bên người lao nhọc và vác nặng, Người luôn gần gũi với mọi người. Nhưng ta sẽ không thực sự gặp được Người đang hiện diện và dỡ nâng, nếu như ta không sống gắn bó thành tâm và sẵn sàng thực thi thánh ý Người, nếu như ta không dấn thân trọn vẹn vào cuộc với Người, nếu như ta không hoàn toàn gia nhập vào thực tại Hội Thánh của Người.
Không người nào hiểu được thực sự Đức Giêsu là ai, ngoại trừ Hiền thê của Người và những ai nhận biết và chấp nhận tham dự vào tình yêu phu thê này.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa luôn hiện diện bên chúng con và ở giũa chúng con,
nhưng chúng con không luôn ở với Chúa
và đón nhận Chúa đồng hành với chúng con;
Chúa luôn gần gũi mà chúng con thường lại quá xa rời Người.
Xin cho chúng con được gặp thấy Chúa,
Hướng ánh mắt đức tin nhìn thấu xa hơn nữa
những dấu chỉ bí tích và đời sống của Hội Thánh Người.
Xin cho chúng con được thực nhận biết Chúa để được vâng phục Người;
nhưng đồng thời cũng xin cho chúng con biết
vâng theo các chương trình và thiên ý,
để nhờ tâm hồn ngoan ngùy này mà chúng con có thể ngày càng biết Chúa hơn.
Xin cho chúng con ngày càng hiệp thông trọn vẹn hơn
với Hội Thánh Hiền thê của Chúa,
trọn con tim đến trí khôn và ý hướng,
để chúng con biết nhìn với ánh mắt sắc sảo và trong sáng như Chúa,
để chúng con luôn can đảm vững vàng giữa các nghịch cảnh,
để chúng con với lòng khiết trinh biết say mê Người
và yêu mến mọi người, hình ảnh sống động của Chúa. Amen.
Bài 7
CHỈ TÌNH YÊU THÁNH THỂ THÚC BÁCH
Đọc Ga 21, 9-19
1. Bữa ăn sáng trên bờ biển hồ Tibêriat của Chúa Giêsu Phục sinh với các môn đệ được Tác giả Phúc âm thứ tư mô tả với ám chỉ rõ ràng đến bữa tiệc Thánh Thể.
Thức ăn ở đây là bánh và cá, giống như trong đoạn nói về dấu lạ bánh hóa ra nhiều của Phúc âm Gioan chương 6 dẫn vào bài giáo lí căn bản về đề tài “Bánh hằng sống” (Ga 6, 35) và “Thịt ban cho thế gian được sống” (Ga 5, 51). Phần thứ nhất của chương 21 này gợi cho ta suy nghĩ về sự hiện diện của Chúa như là yếu tố căn bản làm nên Hội Thánh và sự thuộc về Hội Thánh là điều kiện cốt yếu để ta được phát sinh hoa quả dồi dào (phong nhiêu). Phần này giúp chúng ta hiểu rằng mình sẽ không thực sự thuộc về Hội Thánh và như vậy sẽ không được phong nhiêu thực sự nếu không có cử hành và sống mầu nhiệm Thánh Thể. Phần kế tiếp của trình thuật nói rằng từ Thánh Thể còn sinh ra sứ vụ tông đồ và bước theo Chúa Kitô.
Ở chương sáu Đức Giêsu chuẩn bị cho việc ban phát lương thực bằng việc trước tiên Người khơi lên sự quan tâm và dấn thân của các Tông đồ: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” (Ga 6, 5). Ở đây cũng tương tự, Chúa bắt đầu bằng một yêu cầu: “Này các chú, không có gì ăn ư?” (Ga 21,5).
Chúa Giêsu xin trước và rồi mới ban cho sau. Người xin trước để chúng ta dâng những hi lễ ít ỏi của mình cho Người sử dụng; để rồi Người ban lại cho chúng ta hưởng dùng của cải phong phú vô hạn của Người. Người xin trước để chúng ta nhận ra sự nghèo nàn cùng cực và bất lực của mình, chúng ta hoàn toàn không có khả năng cung ứng cho nhu cầu của mình và của thế giới. Người hiến ban cho chúng ta để chúng ta không tuyệt vọng về nỗi khốn khổ và yếu hèn của mình, nhưng để ta mở lòng tin tưởng phó thác và nhận biết quyền năng Chúa mà an tâm.
Đức Vua của chúng ta, khi Người muốn chúng ta giàu có lên, trước tiên Người tự hạ làm hành khất và ngỏ xin chúng ta dâng hiến những hi lễ nho nhỏ và ít ỏi mình có. Và khi chúng ta dâng được cho Người cái phần vô nghĩa ấy của ta, Người ban lại cho ta và biến đổi nó thành kho tàng ân sủng.
2. Trên bờ biển Chúa Giêsu đang chờ các ngư phủ trở về với bữa ăn chuẩn bị sẵn: “các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa” (Ga 21, 9). Nhưng Người muốn họ mang đến cho Người những gì họ kiếm được bằng sức của con người: “Đem ít cá mới bắt được tới đây” (Ga 21, 10); đó là cá bắt được từ sáng kiến của Người, và là ơn huệ bởi lòng nhân lành của Người.
Ta thấy ở đây có một qui luật trong mầu nhiệm Thánh Thể. Lễ vật trên đôi tay của chúng ta, làm hi lễ dâng lên Chúa, là bánh và rượu vật chất của chúng ta. Ơn ban khôn tả của Chúa có phần khởi đầu thiết yếu là từ những sản phẩm nghèo nàn của ruộng đất và lao công của con người mà chúng ta đem đặt dưới quyền năng biến đổi của Thánh Thần. Nói cách khác, hiến lễ mà chúng ta dâng lên cho Chúa Cha là “của ơn huệ Ngài ban cho chúng ta” (“de tuis donis ac datis”) do lòng nhân hậu của Ngài.
Như thế, Chúa luôn trao ban cho chúng ta đồng thời kêu xin chúng ta. Ngài ban cho ta tràn đầy ân sủng của Ngài, nhưng lại muốn trong đó có phần góp tự do của con người. Ngài ban tặng cho ta tất cả, nhưng theo cách thức trong ơn huệ ấy có thể nhận ra phần tham dự nào đó của con người.
Chúa giúp ta hiểu rằng Thánh Thể không chỉ là hành động huynh đệ mà chúng ta chia sẻ cho nhau những gì của ta, nhưng trước hết là hồng ân Chúa ban mà chúng ta lãnh nhận. Chỉ từ tình yêu Chúa dành cho chúng ta, được chúng ta đón nhận hằng ngày, mới có thể nẩy sinh hiệu quả tình yêu của ta đối với anh em.
“Người ta sẽ không đến trình diện Đức Chúa tay không” (Đnl 16, 16). Chúng ta không được bao giờ quên lệnh truyền này của lề luật cũ xưa. Nhưng đồng thời cũng phải tin rằng mỗi hiến lễ của chứng ta có thể có để dâng lên Chúa đều xuất phát từ sự dâng tặng và chúc phúc của Ngài.
Tình yêu thống hối của Phêrô
3. Toàn thể chương 21 của Phúc âm thứ tư trình bày khuôn mặt của Simon Phêrô. Vị Tông đồ tiêu biểu cho nhiều bộ mặt. Tiêu biểu cho một con người tội lỗi được tình yêu cứu vớt; qua ngài ta nhận ra bản tính của mọi hành động mục vụ trong Hội Thánh; tầm quan trọng của đoàn sủng và phận vụ ưu việt của Phêrô trong đời sống Hội Thánh.
Trong đoạn đối thoại giữa Chúa Giiêsu và Phêrô, với câu hỏi Người hỏi tới ba lần, có một sự ám chỉ rõ ràng và chua chát về ba lần Phêrô chối Thầy. Vị Tông đồ biết điều đó và cảm thấy đau đớn vô cùng: “Phêrô buồn vì Người hỏi tới ba lần: “Anh có yêu mến Thầy không?” (Ga 21, 17).
Trong cái đêm chết chóc ấy Đức Giêsu đã ngoái nhìn Phêrô sau khi chối Thầy đã khiến ông khóc thảm thiết, trong niềm cay đắng. Hình phạt ấy chẳng bao lâu sẽ biến thành niềm vui: vui mừng vì thấy mình được tha thứ. Đó là niềm vui của kẻ tội lỗi nhận ra tội lỗi của con người không bao giờ mạnh hơn Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Niềm vui khám phá ra rằng trong người Kitô hữu không có một lỗi tội nào, dù lớn đến đâu, mà không thể được tha thứ và xóa bỏ bởi tình yêu vì Chúa Giêsu.
Sự kiện của Phêrô, dưới cái nhìn này, tiêu biểu cho mọi người chúng ta. Ngay cả đời sống Kitô hữu của chúng ta cũng đầy dãy những bất trung ít nhiều, những sự hèn hạ và mâu thuẫn phản chứng.
Thánh Ambrôsiô suy tư về vị Tông đồ trưởng như sau:
“Phêrô đau buồn khóc lóc vì đã phạm sai lầm, mọi người cũng giống như thế. Những giọt lệ châu báu xóa bỏ tội khiên!
Những người được Chúa Giêsu nhác nhìn như thế cũng đau đớn khóc than. Phêrô chối lần thứ nhất ông không khóc, vì Chúa chưa nhìn ông. Phêrô chối lần thứ hai ông cũng không khóc, vì Chúa chưa nhìn ông. Khi ông chối lần thứ ba và Chúa nhìn ông, ông khóc đau đớn thảm thiết, cảm một nỗi hết sức cay đắng.
Lạy Chúa Giê su, xin hãy nhìn chúng con để chúng con biết khóc vì tội lỗi mình.
Ngay cả những vập ngã của các thánh cũng ích lợi cho chúng ta: việc Phêrô chối Chúa đã không làm hại chúng ta, ngược lại sự hoán cải của ngài mang đến ích lợi cho chúng ta.
Phêrô khóc lóc trong niềm cay đắng tột cùng, để có thể lau sạch tội lỗi ông bằng nước mắt.
Này người anh em, bạn cũng hãy khóc lóc để lấy nước mắt mà lau sạch tội lỗi mình, nếu bạn muốn đáng được tha thứ.
Nếu bạn có phạm lỗi lầm, Đức Kitô ở bên cạnh bạn để chứng giám những hành động kín đáo trong lòng bạn, và Người nhìn bạn để bạn nhớ đến các lỗi lầm ấy và xưng thú chúng.
Hãy bắt chước Phêrô, khi lần thứ ba ngài hô lên: Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa.
Ba lần chối Chúa, và ba lần tuyên xưng. Phêrô chối Chúa ban đêm, và giữa ban ngài ngài tuyên xưng tình yêu.
Lạy thánh Phêrô, xin dạy chúng con biết ngước mặt khóc than đem lại cho chúng con ích lợi dường nào. Ngài đã sa ngã trước khi khóc, nhưng sau khi khóc, ngài đã được Chúa chọn làm thủ lãnh những người Tông đồ kia, chính ngài là người trước vốn đã không tự làm chủ bản thân mình được”.[1]
Sứ vụ mục tử của Phêrô
4. Phêrô được Đức Kitô đặt làm mục tử. Trong chương Mười cũng của Phúc âm thứ tư này, Đức Giêsu xác định và giải thích Người là “Mục tử nhân lành”, như thế Người tuyên bố mọi người trong Hội Thánh (từ người lớn nhất đến người nhỏ nhất) đều là con chiên của Người và phải cảm thấy mình thuộc về đàn chiên ấy. Nhưng ở đây đề tài được trình bày rộng hơn nữa về mầu nhiệm “tham dự vào sứ mạng mục tử”; nghĩa là về mầu nhiệm một con người, dù vẫn là con chiên như tất cả mọi người thuộc đàn chiên của Đức Kitô, vẫn tùng phục Người nhưng được đại diện Người, trở thành mục tử. Ở đây Đức Giêsu nói: “các chiên con của Thầy”, “các chiên của Thầy”; nhưng Người cũng nói: “hãy chăn dắt”. Đàn chiên luôn tuyệt dối thuộc về Chúa; nhưng Người gọi một số người trong “đàn” làm nhiệm vụ của mục tử.
Hướng tới sứ vụ này, Phêrô phải qua một cuộc khảo hạch để xem có thích hợp hay không, nhưng chỉ duy về một đề tài thôi, đó là: ngài chỉ được chất vấn về tình yêu. Nhưng không phải về tình yêu đối với các con chiên được phó giao cho ngài như ta tưởng, mà là về tình yêu đối với vị Mục tử dịch thực và: duy nhất: “Simôn con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?” (Ga 21,16).
Khi nói về đức ái, chúng ta phải lưu ý không để mình đi lạc theo những khuynh hướng xã hội chỉ trên bình diện con người của thời đại ngày nay. Đức ái mục tử trước hết là tình yêu đối với Đức Kitô. Rồi từ đó chắc chắn phải nảy sinh và triển nở tình yêu đối với người thân cận, như là phản chiếu và hệ quả của tình yêu đối với Chúa.
Như thế mọi sự phải bắt dầu từ tình yêu đối với Đức Kitô.
Chúng ta cầu nguyện cùng với đức hồng y Newman:
“Lạy Chúa Giêsu,
Xin cho con biết yêu mến Chúa bằng một tình yêu thanh khiết và nồng nàn. Xin cho con yêu Chúa còn mãnh liệt hơn người thế gian yêu mến những sự thế gian.
Xin cho con yêu mến Chúa với một tình yêu dịu dàng và kiên trung như người thế gian hằng mong khi yêu thương. Xin cho con cảm thấy Chúa là niềm vui, nơi nương ẩn, sức mạnh, niềm hi vọng và là tình yêu duy nhất của con”.
Vai trò tối thượng của Phêrô
5. Ta thấy cho tới nay Phêrô là hình ảnh tiêu biểu cho mọi tín hữu và mục tử. Những vẫn còn một điều quan trọng nữa, đó là: chỉ một mình Phêrô được Chúa nói: “hãy chăn dắt các chiên của Thầy”. Rõ ràng tác giả Phúc âm có ý nêu ra cho cộng đoàn Hội Thánh sứ vụ đặc biệt và độc nhất của Phêrô, là một sứ vụ nổi bật và đứng trên giữa sứ mạng tông đồ nói chung của Nhóm Mười Hai. Bởi thế mà Phêrô được Chúa hỏi: “Anh có yêu mến Thầy hơn những người này không?” (Ga 21, 15).
Các cộng đoàn Hội Thánh của Gioan, theo trình thuật này, cùng xác tín với các cộng đoàn Do Thái - Kitô giáo về vai trò thủ lãnh của Phêrô. Phúc âm Matthêu (chương 16) nói người thủ lãnh Tông đồ đoàn như là Đá tảng trên đó xây dựng ngôi nhà của Thiên Chúa ở trần gian. Các cộng đoàn Hội Thánh của Phaolô, theo Phúc âm Luca (ch. 22) đã giới thiệu Phêrô như là người có nhiệm vụ củng cố anh em mình trước những âm mưu của ma quỉ luôn tìm cách làm cho các môn đệ Chúa Giêsu bất hòa và chia rẽ. Như ta thấy, toàn thể Hội Thánh sơ khai biết rằng mình không thể sống viên mãn sự vâng phục Đức Kitô mà không nhìn nhận phận vụ thủ lãnh trường tồn của Phêrô.
Phêrô phải chăm sóc những chiên nào? Chúa Giêsu đáp: “các chiên của Thầy”. Phêrô phải chăm sóc các con chiên của Đức Kitô, tức là.mọi con chiên, bởi vì Đức Kitô là Mục tử duy nhất của toàn thể đàn chiên. Như thế, Phêrô được cử chăm sóc toàn thể đàn chiên của Chúa: phận vụ của ngài liên hệ đến toàn thể Hội Thánh.
Và như ta còn thấy từ sự thẩm vấn ứng viên của Người, vai trò thủ lãnh này trong hướng dẫn, quản trị và giáo huấn có đặc tính là khai sinh từ tình yêu và thực thi trong tình yêu: tình yêu đối với Đức Kitô, tình yêu ấy khơi gợi tình yêu đối với con người và ơn cứu rỗi của con người.
Chúng ta được mời gọi hôm nay vâng phục sự thật này bằng cách sống hòa hợp chân thành, trong mềm cảm mến, không ngại ngần với giáo huấn và hướng dẫn mục vụ cụ thể của Phêrô, vốn vẫn đang hoạt động trong lịch sử qua trung gian thừa tác vụ của Giám mục Roma.
6. Như ta thấy, từ Lời Chúa chúng ta một lần nữa được thúc đẩy tái khám phá dấu lạ về Hội Thánh. Hội Thánh khởi dầu từ việc người ta đi theo Đức Kitô. Lời Chúa kêu gọi Phêrô: “hãy theo Thầy”, cũng hướng tới mỗi người, những người không khép lòng mình lại trước lời mời gọi hấp dẫn của chân lí tuyệt đối và vẻ đẹp của vĩnh cửu. Nhưng trước hết, lời ấy hướng đến chúng ta, là những người được mời gọi thực thi sứ vụ của các Tông đồ. Chính vì Chúa Giêsu vẫn còn làm cho tâm hồn ta say mê và hấp dẫn, nên Hội Thánh, dù có như thế nào, cũng luôn được bền vững và tươi trẻ mãi.
Từ Lời Chúa chúng ta nhận biết gia đình các tín hữu đã được đem trồng vào trong thế gian và được nâng đỡ trên các nẻo đường lịch sử bởi đoàn sủng của Nhóm Mười Hai Tông đồ; trong gia đình ấy Đức Kitô Chịu đóng đinh và đã sống lại đang sống, Người mạc khải mình ra, Người làm cho mọi người nhận ra Người, đang hiện diện, ban cho ta sức sống, qui tụ, và nuôi dưỡng chúng ta. Gia đình ấy luôn sinh sôi nảy nở, vững vàng, sinh hiệu quả thiêng liêng.
Cũng luôn luôn từ Lời Chúa mà chúng ta nhận biết và quí trọng đoàn sủng riêng của Phêrô, người mục tử được ủy thác chăm sóc cho tất cả đàn chiên của Chúa.
Từ trái tim Chúa Cha đổ tràn lòng Thương Xót của Ngài xuống trên chúng ta. Mỗi ngày chúng ta hãy nài xin lòng Thương Xót ấy được chúng ta đón nhận vào thực tế cuộc sống và thúc bách chúng ta dấn thân làm việc và hiến dâng (theo lôgich mầu nhiệm sâu xa của Thánh Thể mà chúng ta cử hành hằng ngày) cho thế gian được sống.
Đức Cha Louis Nguyễn Anh Tuấn
Giám mục Phụ tá Tổng Giáo phận Sài Gòn
[1] Sant’Ambrogio, In Lucam X, 87-90.92.