Chúa Nhật I Mùa Chay - Năm C

“Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh.” (Lc 4, 4)

Chúa Nhật I Mùa Chay - Năm C
 

Lc 4, 1-13

BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
Chúa Nhật I Mùa Chay - Năm C


Ca nhập lễ

Nó sẽ kêu cầu Ta, và Ta sẽ nhậm lời nó. Ta sẽ cứu gỡ và làm cho nó được vinh dự, Ta sẽ cho nó được sống lâu dài.

Dẫn vào Thánh Lễ

Anh chị em thân mến!

Mùa chay được bắt đầu từ thứ tư Lễ Tro, và kéo dài 40 ngày, nhắc lại 40 năm dân Chúa đi qua sa mạc để vào đất hứa. Thời gian 40 ngày còn nhắc nhở cho ta việc ăn chay đền tội. Nên mầu sắc phụng vụ trong Mùa Chay là mầu tím tượng trưng cho tâm tình ăn năn, sám hối. Đây là dịp để người tín hữu kiểm điểm lại mối liên hệ trước mặt Chúa và xét lại mức thang giá trị của mỗi người : những gì là quan trọng trước mặt Chúa và quan trọng hơn trong cuộc sống người tín hữu.

Trong Cựu ước các tiên tri như Môsê, Elia, Gioan Tẩy Giả cũng ăn chay 40 ngày trước khi thi hành sứ vụ. Chính Chúa Giêsu mà Tin Mừng hôm nay thuật lại cũng đã ăn chay 40 ngày trước khi bắt đầu cuộc sống công khai và Người đã bị ma quỉ cám dỗ về cơm bánh, danh vọng và quyền uy.

Thực tế trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường hay “sa chước cám dỗ” của ma quỷ thế gian và xác thịt! Vì thế, trước khi cử hành Mầu Nhiệm Thánh, chúng ta thành tâm thú nhận mọi tội lỗi và thiếu sót của mình, để được ơn tha thứ.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng, hằng năm Chúa ban cho chúng con bốn mươi ngày chay thánh, để tôi luyện hồn xác chúng con. Xin giúp chúng con sống những ngày khắc khổ ấy, để học biết Ðức Ki-tô, và dõi theo gương Người, hầu xứng đáng hưởng ơn Người cứu độ. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.

Bài Ðọc I: Ðnl 26, 4-10

“Dân được chọn tuyên xưng đức tin”.

Trích sách Ðệ Nhị Luật.

Ông Môsê nói cùng dân chúng rằng: “Thầy tư tế nhận của đầu mùa từ tay ngươi và đem đặt trước bàn thờ của Chúa là Thiên Chúa ngươi, và ngươi sẽ nói trước mặt Chúa là Thiên Chúa rằng: “Tổ phụ con là Aramêô du mục đã đi xuống Ai-cập và sống ở đó như ngoại kiều với một ít người; và đã phát triển thành một dân tộc vĩ đại, hùng mạnh và đông đúc. Các người Ai-cập đã ngược đãi, hành hạvà bắt chúng con làm việc nặng nhọc. Chúng con đã kêu cầu Chúa là Thiên Chúa cha ông chúng con, và Chúa đã nghe lời chúng con, đã nhìn thấy cảnh thống khổ, cực nhọc và khốn cùng của chúng con. Chúa đã dùng bàn tay mạnh, cánh tay hùng, dùng những biến cố khủng khiếp và những dấu lạ phi thường mà dẫn chúng con ra khỏi Ai-cập. Chúa đưa chúng con đến đây, ban cho chúng con xứ này, một xứ chảy sữa và mật. Và vì thế, lạy Chúa, giờ đây con dâng tiến Chúa những của đầu mùa, hoa màu ruộng đất mà Chúa đã ban cho con”. Ngươi sẽ đem đặt nó trước mặt Chúa là Thiên Chúa ngươi và sấp mình trước tôn nhan Người.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 90, 1-2. 10-11. 12-13. 14-15

Ðáp: Lạy Chúa, xin hãy ở cùng con trong lúc gian truân (x. c. 15b).

Xướng: Bạn sống trong sự che chở của Ðấng Tối Cao, bạn cư ngụ dưới bóng của Ðấng Toàn Năng. Hãy thưa cùng Chúa: Chúa là chiến luỹ, nơi con nương náu, lạy Chúa con, con tin cậy ởNgài. 

Xướng: Tai nạn không đến gần được bạn, và oan ương không bén mảng tới nhà bạn ở. Vì Chúa ra lệnh cho các Thiên Thần Ngài săn sóc bạn, để chư vị đó gìn giữ bạn trên khắp nẻo đường.

Xướng: Chư vị đó bồng bế bạn trên tay, để bạn khỏi vấp chân vào đá. Trên mình hổ mang, rắn lục bạn bước đi, bạn đạp chân trên sư tử và giao long. – Ðáp.

Xướng: Vì người quý mến Ta, Ta sẽ giải thoát cho, Ta sẽ che chở người bởi lẽ người nhìn biết danh Ta. Người sẽ kêu cầu Ta và Ta sẽ nhậm lời, Ta sẽ ở cùng người trong lúc gian truân, Ta sẽ cứu gỡ và làm vinh dự cho người. – Ðáp.

Bài Ðọc II: Rm 10, 8-13

“Kẻ tin tưởng tuyên xưng đức tin trong Chúa Kitô”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, Thánh Kinh nói gi? Lời ở kề trong miệng và trong lòng người. Ðó là lời đức tin mà chúng tôi rao giảng. Vì nếu miệng ngươi tuyên xưng Ðức Giêsu là Chúa, và lòng ngươi tin rằng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại, thì ngươi sẽ được rỗi. Quả thế, tin trong lòng thì sẽ được công chính, tuyên xưng ngoài miệng sẽ được cứu rỗi. Vì Thánh Kinh đã có nói: “Hễ ai tin vào Người sẽ không phải hổ thẹn”. Bởi lẽ không có sự phân biệt người Do-thái và Hy-lạp: Vì là cùng một Chúa của mọi người, Ngài rộng rãi đói với tất cả mọi người khẩn xin cùng Ngài. Vì mọi kẻ cầu khẩn Danh Ngài, đều được cứu độ.

Ðó là lời Chúa.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Mt 4,4b

Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

Phúc Âm: Lc 4, 1-13

“Thánh Thần thúc đẩy Chúa vào hoang địa, và chịu cám dỗ”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu được đầy Thánh Thần, liền rời vùng sông Giođan và được Thánh Thần đưa vào hoang địa ở đó suốt bốn mươi ngày, và chịu ma quỷ cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì và sau thời gian đó, Người đói. Vì thế, ma quỷ đến thưa Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho đá này biến thành bánh đi”. Chúa Giêsu đáp: “Có lời chép rằng: Người ta không phải chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn bằng lời Chúa nữa”.

Rồi ma quỷ lại đem Người lên cao hơn cho xem ngay một lúc tất cả các nước thiên hạ và nói với Người rằng: “Tôi sẽ cho ông hết thảy quyền hành và vinh quang của các nước này, vì tất cả đó là của tôi và tôi muốn cho ai tuỳ ý. Vậy nếu ông sấp mình thờ lạy tôi, thì mọi sự ấy sẽ thuộc về ông!” Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: “Có lời chép rằng: Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng thờ một mình Người thôi”.

Rồi ma quỷ lại đưa Người lên Giêrusalem, để Người trên góc tường cao đền thờ và bảo rằng: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống, vì có lời chép rằng: “Chúa sẽ truyền cho Thiên Thần gìn giữ ông!” Và còn thêm rằng: “Các vị đó sẽ giơ tay nâng đỡ ông khỏi vấp phải đá”. Chúa Giêsu đáp lại: “Có lời chép rằng: Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi!” Sau khi làm đủ cách cám dỗ, ma quỷ rút lui để chờ dịp khác.

Ðó là lời Chúa.

Lời nguyện tín hữu

Chủ tế: Anh chị em thân mến! Nơi hoang địa Chúa Giêsu đã chiến thắng ma quỉ. Chúng ta cũng hãy lui vào hoang địa của tâm hồn, để nhờ Chúa Thánh Thần tác động mãnh liệt, chúng ta có thể chiến thắng những đam mê của đời người tín hữu. Chúng ta hãy khiêm tốn nguyện xin:

1. “Khi ấy Chúa Giêsu được… Thánh Thần đưa vào hoang địa …và chịu ma quỷ cám dỗ”.- Xin Thần Khí Chúa luôn xuống tràn đầy trên các vị Chủ chăn, để với tình yêu và nhờ sự khôn ngoan Chúa hướng dẫn, các Ngài có thể nhận ra mọi âm mưu của ác thần nhằm tác hại Hội Thánh

2. “Và Chúa đã nghe lời chúng tôi”.- Xin cho các Kitô hữu biết chân thành tìm kiếm Chúa trong mùa chay tịnh này, để họ ham thích học hỏi Lời Chúa, hầu ứng phó kịp thời với những nguy cơ làm lung lạc đời sống đức tin của họ.

3. “Tin trong lòng thì sẽ được công chính, tuyên xưng ngoài miệng sẽ được cứu rỗi”.- Xin cho các tội nhân không thất vọng trước những lầm lồi của mình, nhưng biết can đảm tìm về với Chúa là Đấng ban ơn giúp họ chiến thắng mọi đam mê dục vọng.

4. “Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi, và chỉ phụng sự một mình Ngài” – Xin cho những người giầu có trong giáo xứ chúng ta ý thức rằng: họ không thể đạt được hạnh phúc thật nếu họ chỉ bám víu vào những vật chất mau qua, và phải qui hướng chúng vào việc phụng sự Chúa.

Chủ tế:  Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã chiến thắng các cám dỗ của ma quỉ bằng việc hoàn toàn lệ thuộc vào thánh ý Chúa Cha và quyết liệt chống lại ác thần. Xin cho chúng con sống khiêm tốn, tín thác tuyệt đối vào Chúa, để chúng con hưởng nhờ ơn cứu chuộc, Người là Thiên Chúa hằng sống.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, hôm nay là Chúa Nhật đầu mùa chay thánh, chúng con dâng lên Chúa những lễ vật này. Cúi xin Chúa vui lòng chấp nhận và thương biến đổi chính cuộc đời chúng con thành của lễ đẹp lòng Chúa. Chúng con cầu xin…

Lời tiền tụng

Lạy Chúa là Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con. Khi nhịn ăn bốn mươi đêm ngày, Người đã nêu gương chay tịnh, và khi phá vỡ mưu chước của con rắn xưa, Người dạy chúng con thắng mọi cơn cám dỗ: để khi cử hành mầu nhiệm Vượt Qua với tâm hồn trong sạch, chúng con có thể tới dự lễ Vượt Qua muôn đời. Vì thế, hiệp với toàn thể Thiên thần và các thánh, chúng con không ngừng hát bài ca chúc tụng Chúa, mà tung hô rằng:

Thánh! Thánh! Thánh!…

Ca hiệp lễ

Người ta không sống nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, Chúa đã thương lấy bánh bởi trời nuôi dưỡng chúng con, làm cho đức tin thêm mạnh mẽ, đức cậy được vững vàng, đức mến hằng tha thiết. Xin dạy chúng con biết khao khát tìm kiếm Ðức Ki-tô là bánh trường sinh đích thực, và biết lấy lời Chúa làm lương thực hằng ngày. Chúng con cầu xin…

Suy niệm

CẨN TRỌNG TRƯỚC CÁC CƠN CÁM DỖ (Đnl 26, 4-10; Rm 10, 8-13; Lc 4, 1-13)
Giuse Vinhsơn Ngọc Biển SSP

Trong hành trình tin và theo Chúa, hẳn mỗi người đều có kinh nghiệm về cám dỗ và thử thách. Có những cám dỗ không đáng kể, nhưng cũng có những thử thách chẳng đơn giản chút nào! Trước những thử thách và cám dỗ, có người coi là bình thường, lại có người cho là cam go, có người đứng vững, có người lung lay và có người ngã gục.

Tại sao lại có nhiều tâm trạng và thái độ cũng như kết cục như vậy? Thưa! Rất đơn giản, đó là khi thử thách và cám dỗ xảy đến, ta nhìn nó dưới khía cạnh nào, nhất là ta chiến đấu với ai và chiến đấu như thế nào?

Để hiểu rõ hơn về các hình thức cám dỗ cũng như cách chiến đấu trước thử thách, chúng ta sẽ lần lượt đi từ cám dỗ của dân Israel đến Đức Giêsu và sau cùng là chúng ta. Qua đó rút ra cho mình bài học để sống trong Mùa Chay Thánh này.

1. Cám dỗ của dân Israel

Trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã chọn dân Israel làm dân riêng, và đã yêu thương, bao bọc, trở che, nhất là đã dẫn họ ra khỏi Aicập, đưa vào Đất Hứa. Tuy nhiên, trên hành trình đó, họ đã gặp phải không ít khó khăn, thử thách, khiến dân không còn trung thành với Giao Ước đã ký kết với Thiên Chúa nữa.

Vì thế, họ đã vấp phải những cám dỗ:

Thứ nhất, cám dỗ về nhu cầu thân xác. Thiên Chúa đã yêu thương, nuôi dân bằng Manna và chim cút, thế nhưng, họ đã không cảm nghiệm được tình thương, ngược lại, đã tiếc nuối “củ hành, củ tỏi” bên Aicập, để rồi phàn nàn trách móc Thiên Chúa.

Thứ hai, khi Môsê lên núi để gặp Chúa lâu giờ, dân sốt ruột, nóng lòng, nên ở dưới, họ đã xúc phạm đến Thiên Chúa bằng việc đề nghị Aharon cho đúc bò vàng để tôn thờ thay Thiên Chúa. Đây là cơn cám dỗ thờ ngẫu tượng.

Thứ ba, trải qua hành trình sa mạc, dân phàn nàn, trách móc, thách thức Thiên Chúa và đòi Người phải thi hành theo ý họ. Đây là cơn cám dỗ về sự kiêu ngạo.

Tất cả những cám dỗ đó, dân Israel đều ngã ngục vì lý do:  không nhớ đến tình thương của Thiên Chúa và không biết phó thác nơi Người.

2. Cám dỗ của Đức Giêsu

Nếu dân Israel cũ đã ngã gục trước cả ba loại hình cám dỗ, thì Đức Giêsu, vị thủ lãnh của dân Israel mới, Ngài cũng từng trải qua ba cơn cám dỗ tương tự, tuy nhiên, Ngài đã chiến thắng hoàn toàn.

Kinh Thánh kể lại: sau khi Đức Giêsu đã trải qua hành trình dài 40 đêm ngày chay tịnh trong sa mạc, ma quỷ đã lợi dụng đúng lúc cao điểm này để tấn công Đức Giêsu.

Cơn cám dỗ thứ nhất: khi chúng phát hiện thấy Đức Giêsu đói, nó đã tiến lại và lên tiếng: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho đá này biến thành bánh đi” (Lc 4,3).

Khi cám dỗ Đức Giêsu thỏa mãn cơn đói như vậy, ma quỷ muốn đánh vào các đam mê lạc thú để thỏa mãn nhu cầu thân xác. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã chiến thắng bằng việc tuyên bố: “Đã có lời chép rằng: ‘người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh’” (Lc 4,4).

Sang cơn cám dỗ thứ hai, ma quỷ đánh vào tâm lý ham hố danh vọng, nhất là nó khơi gợi quyền lực, háo thắng. Vì thế, chúng đã nói với Đức Giêsu: “Nếu ông bái lạy tôi thì tất cả các nước thiên hạ sẽ thuộc về ông” (x. Lc 4, 7).

Tuy nhiên, như lần đầu, Đức Giêsu cũng đã chiến thắng và khẳng định rằng: Ngài chỉ lệ thuộc vào một mình Thiên Chúa (x. Lc 1,32b), vì thế, không có lý do gì khác khiến Ngài tôn thờ chúng (x. Lc 4,8; Đnl 6,13).

Cơn cám dỗ sau cùng, ma quỷ khơi gợi sự kiêu ngạo bằng việc thách thức Đức Giêsu thi thố quyền năng để gieo mình từ nóc đền thờ xuống (x. Lc 4,10). Qua cơn cám dỗ này, chúng muốn Đức Giêsu đi vào vết xe đổ của hắn, của Tổ tông và của dân Israel xưa kia!

Tuy nhiên, lần cuối cùng này, chúng cũng thất bại trước phản ứng của Đức Giêsu: “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (Lc 4, 12; x. Đnl 6,16).

Lý do Đức Giêsu chiến thắng cả ba cơn cám dỗ trên, ấy là vì Ngài  đã đặt trọng tâm Thiên Chúa vào trong cuộc sống của Ngài. Vì thế, sự chiến thắng của Ngài là chiến thắng trong và nhờ Thiên Chúa.

3. Cám dỗ của chúng ta

Những cơn cám dỗ của dân Israel, rồi đến Đức Giêsu sẽ mãi mãi là chiêu thức ma quỷ đặt ra cho chúng ta.

Trước tiên, về nhu cầu thân xác: khi hắn thấy việc ăn uống của con người là điều kiện không thể thiếu nếu muốn tồn tại. Vì thế, chúng luôn tấn công ta bằng thái độ: “Sống để ăn chứ không phải ăn để sống!” Nó cũng thường xuyên cám dỗ ta về nhu cầu xác thịt, ăn chơi đàn điếm để thỏa mãn bản năng…. Nhiều người đã mắc phải cạm bẫy này, nên: “Cực lạc sinh bi ai”.

Thứ đến, đó là cơn cám dỗ về lợi lộc: là con người, ai lại chẳng thích được sung túc, lợi lộc, danh vọng, quyền lực… Hiểu được tâm lý đó, nên chúng luôn tìm cách đánh vào huyệt trọng yếu của ta. Trước cám dỗ này, nhiều người đã nhắm mắt, bán linh hồn và trở thành nô lệ cho chúng, vì thế, không lạ gì khi có quá nhiều người chỉ vì một chút lợi lộc thức thời, mau qua, chóng hết mà đã chấp nhận bán rẻ lương tâm, trà đạp người khác, sống trên mồ hôi, xương máu của anh chị em mình.

Cơn cám dỗ cuối cùng, ma quỷ đánh vào tính kiêu ngạo của chúng ta. Thật thế, lòng tham sân si, háo danh, muốn hơn người là cái đích mà nhiều người nhắm tới. Vì thế, ta thấy có nhiều người chấp nhận ăn mày tiếng khen. Biết được tâm lý đó, nên ma quỷ thường xuyên tung ngón đòn thâm hiểm, độc địa này để dụ dỗ chúng ta, bởi vì kiêu ngạo, háo danh là con đẻ của chúng.

4. Sống sứ điệp Lời Chúa

Như những gì đã tìm hiểu ở trên, chúng ta thấy: con người là đối tượng để ma quỷ cám dỗ. Vì thế, lời tiên báo của Đức Giêsu cho Phêrô đáng để chúng ta cảnh giác: “Simon, Simon ơi, kìa Xatan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo” (Lc 22,31). Rồi từ chính kinh nghiệm cá nhân, thánh nhân nhắc nhở: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỉ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5,8).

Như vậy, cám dỗ là nghề của ma quỷ, vì thế, mọi cơn cám dỗ dù lớn hay nhỏ, dù lâu hay mau, nó đều đi đến mục đích cuối cùng là làm sao cho con người phạm tội.

Đứng trước các cơn cám dỗ, chúng ta không được phép coi nhẹ hay giám khinh! Nhưng như Đức Giêsu, chúng ta hãy lấy đức khiêm nhường làm nền tảng, lấy sự hy sinh làm sức sống và lấy Lời Chúa làm võ khí. Như thế, ta mới hy vọng chiến thắng  (x. Pl 4,13).

Lạy Chúa Giêsu, hôm nay Chúa đã chiến đấu và đã chiến thắng cạm bẫy của Xatan. Xin cho chúng con biết noi gương Chúa để đối trọi với những cám dỗ trong đời sống thường ngày của mình. Amen.

CHÚA NHẬT 1C MÙA CHAY –2001
(Lc. 4:1-13) Lm Lã Mộng Thường

Bài Phúc Âm nói rõ cho chúng ta biết Đức Giêsu được đầy Thánh Thần và được đưa vào hoang địa chay tịnh để rồi chịu ma quỷ cám dỗ. Sự cám dỗ gồm có ba phần rõ rệt, nhu cầu thiết yếu cho sự sống phần xác đó là thực phẩm, tiếp theo đó, quyền hành, vinh quang thế tục, và niềm tin vào Thiên Chúa.

Tôi trộm nghĩ, ai trong chúng ta cũng thế, khi cơn đói đã đến độ cực điểm, mọi người đều thực hiện bất cứ gì để dằn bụng cấp thời. Quyền hành, giàu có là điều không ai trong chúng ta không mong ước dầu chỉ một trong hai bởi có quyền hành tất nhiên không thiếu cách làm tiền, hoặc có tiền, chúng ta sẽ có thể thỏa mãn khá nhiều những ước mơ. Thế nên nào lạ gì dân gian có câu, “Có tiền mua tiên cũng được” phương chi cuộc sống thoải mái tốt lành. Kinh nghiệm sống minh chứng, nghèo là một cái tội; chẳng những thế, sự nghèo khổ sinh ra lắm thứ tội lỗi; không thế mà dân gian có câu, “Bần cùng sinh đạo tặc” mà chúng ta đôi khi được nghe ai đó nhắc nhở.

Điều ít ai để ý đó là những thử thách về niềm tin. Có bệnh phải vái tứ phương, thế nên, vì lòng khao khát nhận biết điểm đích cuối cùng của con người đã bị những nhu cầu cuộc sống che lấp cộng thêm tính chất ngại ngùng vượt thắng những khó khăn để tìm hiểu đã tạo nên nơi lòng trí mỗi người nỗi lo âu bất tận. Hơn nữa, kinh nghiệm sống minh chứng, con người luôn luôn lầm lẫn do đó có thể nói hầu hết lòng tin hay đức tin theo nhận thức bình thường của mỗi người chỉ là tổng số những nghi ngờ vô hạn định.

Chẳng thế mà chúng ta đã quá quen với cảm nghĩ, cầu nguyện với Chúa thì cứ cầu nhưng Chúa ban cho hay không thì nào ai mà biết. Tự kiểm điểm nơi lòng mình, có thể nói, giá trị đức tin của chúng ta mang đầy tính chất hy vọng đến độ mơ hồ. Đây là lý do tại sao cứ mỗi lần đọc Kinh Thánh tới câu, “Hãy xin thì sẽ được; hãy tìm thì sẽ gặp; hãy gõ thì sẽ mở cho” (Mt. 7:7) chúng ta đều cảm thấy ngại ngùng không dám dù chỉ bỏ ra đôi phút suy nghiệm. Tự xét nơi thực tại lòng mình, tất cả mọi cơn thử thách đều là ước muốn, ước mơ của con người mà thôi. Chúng ta tin chắc rằng Đức Giêsu là chính Thiên Chúa nhập thể làm người thì ma quỷ nào có khả năng để thử thách Ngài.

Đặt vấn đề như vậy, những sự thử thách thế tục đến với Đức Giêsu nếu có lại chính là ước muốn thế tục nơi thân phận kiếp người ở Ngài như nơi mọi người chúng ta. Kinh nghiệm nhận thức cũng cho chúng ta biết, ma quỷ hay kẻ thù kinh khủng nhất của mỗi người chúng ta lại là chính mình, là những mơ ước, khát vọng nơi mình.

Như vậy, bài Phúc Âm viết về sự cám dỗ, thử thách nơi cuộc đời Đức Giêsu chính là những sự thử thách, cám dỗ ngay nơi ước muốn, ước mơ, tham vọng của mỗi người chúng ta. Những ước muốn, ước mơ, tham vọng này bắt nguồn từ những nhu cầu thiết yếu nơi cuộc đời. Lẽ tất nhiên, chúng ta được sinh ra với những bộ phận lòng ruột, chúng ta phải ăn, phải uống… và vì chúng ta có khứu giác, vị giác, muốn được ăn ngon, uống thứ mình thích chẳng những là lẽ thường mà lại nên có và cần có. Từ những kinh nghiệm khốn khó không biết xoay xở, nhờ cậy nơi đâu, chúng ta cần biết ăn chắt để dành. Tuy nhiên, nếu đã không thể kiếm được những nhu cầu cho cuộc sống, dù cố gắng ăn chắt để dành thì cũng không có gì mà để dành “Bởi vậy, đã có người suy luận và đề nghị cầu xin cùng Chúa”, Xin cho chúng con kiếm được nhiều hơn dùng đủ, bởi nếu chỉ dùng đủ thì khi khốn cùng biết chạy nơi nao! Và thế là quyền hành cũng như của cải trở thành mục đích hiện thực không lớn thì nhỏ trong tầm tay ai cũng có mơ ước đạt tới. Bất cứ ai để tâm nhận định sẽ nhận thấy những mơ ước mang quyền năng và áp lực tuyệt đối nơi con người. Mơ ước tự nó đã mang quyền lực hiện hữu lại được kinh nghiệm cuộc sống phù trợ, dù tốt lành hay chẳng nên, mơ ước đã biến con người thành nô lệ cho chính mơ ước của mình. Những ước mơ, ham muốn, tham vọng dù tốt lành hay xấu xa cũng đều mang năng lực ảnh hưởng mạnh mẽ nơi con người mà chúng ta thường gọi là những sự cám dỗ. Thử hỏi chúng ta đã cảm thấy thế nào qua bao lần đọc hoặc nghe câu Phúc Âm, “Vì thế Ta bảo các ngươi: chớ lo cho mạng sống mình, các ngươi ăn gì, hay về thân xác, các ngươi mặc gì. Há mạng sông không hơn của ăn, và thân xác không hơn áo mặc sao? Hãy coi chim trời. Chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho lẫm, và Cha các ngươi, Đấng ở trên trời nuôi nắng chúng! Các ngươi không hơn chúng sao!” (Mt. 6:25-26). Tuy nhiên đối với cuộc sống, mỗi người chúng ta thực sự cảm nghiệm thế nào? “Không làm thì đói, mà làm thì ói xương hom”. Đàng khác nếu có ai dám cả gan sống theo lời Phúc Âm, chúng ta lại cho rằng lười biếng hoặc dùng ngôn từ “loại du thủ du thực” không thanh nhã gì để chỉ về những người ấy.

Dĩ nhiên nơi thân phận con người chúng ta bị điều kiện vật chất của cuộc sống ảnh hưởng mạnh mẽ đến độ khá nhiều triết gia, thần học gia, và những nhà tư tưởng đã chỉ luẩn quẩn nơi giới hạn nhân sinh để kiếm tìm câu giải đáp cho mục đích của cuộc sống và đã chẳng bao giờ vượt thoát khỏi nhận thức hữu vi thế tục vây bọc. Cũng chỉ vì không bao giờ để ý đặt vấn đề nhận thức về thực tại hiện hữu nơi chính mình, cũng chỉ vì cho rằng những gì khoa học không chứng minh được là không phải sự thực, họ đã tự khuôn mẫu hóa giới hạn suy tư. Cũng chỉ vì nghĩ rằng tâm tư một người bắt nguồn từ thực thể vật chất cấu tạo nên con người nên họ đã không nhận ra được con người còn có thực thể siêu việt đang ngự trị. Thực thể siêu việt này hiện thân qua và quấn quyện với ý nghĩ, ước muốn, ý định, tham vọng, niềm mơ nơi mỗi cá nhân mọi thời. Đây chính là điểm căn bản cho mọi thành quả con người có thể đạt tới. Nói cách khác, ước muốn, ý định của một người mang quyền lực lớn lao chi phối mọi sinh hoạt vật chất cũng như tinh thần của họ.

Tóm lại, bài Phúc Âm khuyến khích chúng ta để tâm nhận định về tâm hồn của mình, nhận thực con người mình thế nào, mình có những ước mơ gì nơi cuộc đời, mục đích cuộc đời của mình là gì, và mình nên sống thế nào. Nếu chúng ta thực sự muốn biết mình ra sao, hãy tự nhận biết mình đang thực sự muốn gì. Quý ông bà anh chị em làm ơn để ý lời khuyên nơi Phúc Âm, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, và những sự khác sẽ được ban thêm cho các ngươi” (Mt. 6:33). Lời Phúc Âm đã hai ngàn năm nhắc nhở, nhưng cho tới thời đại này, Nước Thiên Chúa vẫn còn như mơ hồ thì sao con người dám đặt vấn đề tìm kiếm. Amen.

Chúa Nhật I Mùa Chay – Năm C
Lm. Phêrô Trần Bảo Ninh

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 4, 1-13).

Khi ấy, Chúa Giêsu được đầy Thánh Thần, liền rời vùng sông Giođan và được Thánh Thần đưa vào hoang địa ở đó suốt bốn mươi ngày, và chịu ma quỷ cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì và sau thời gian đó, Người đói. Vì thế, ma quỷ đến thưa Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho đá này biến thành bánh đi”. Chúa Giêsu đáp: “Có lời chép rằng: Người ta không phải chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn bằng lời Chúa nữa”.

Rồi ma quỷ lại đem Người lên cao hơn cho xem ngay một lúc tất cả các nước thiên hạ và nói với Người rằng: “Tôi sẽ cho ông hết thảy quyền hành và vinh quang của các nước này, vì tất cả đó là của tôi và tôi muốn cho ai tuỳ ý. Vậy nếu ông sấp mình thờ lạy tôi, thì mọi sự ấy sẽ thuộc về ông!” Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: “Có lời chép rằng: Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng thờ một mình Người thôi”.

Rồi ma quỷ lại đưa Người lên Giêrusalem, để Người trên góc tường cao đền thờ và bảo rằng: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống, vì có lời chép rằng: “Chúa sẽ truyền cho Thiên Thần gìn giữ ông!” Và còn thêm rằng: “Các vị đó sẽ giơ tay nâng đỡ ông khỏi vấp phải đá”. Chúa Giêsu đáp lại: “Có lời chép rằng: Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi!” Sau khi làm đủ cách cám dỗ, ma quỷ rút lui để chờ dịp khác.

Suy niệm

Bước vào mùa chay với màu tím nổi bật trong phụng vụ, dù đó là một màu sắc u buồn nhưng nỗi buồn của mùa chay không đưa các tín hữu đi tới ngõ cụt của hành trình đức tin, nhưng nỗi buồn đây đưa con người trở về với chính mình, để thấy sự mong manh của một con người. Màu tím còn giúp con người sống mùa chay có chiều sâu hơn, ý nghĩa hơn và thánh thiện hơn trong cuộc đời. Bước vào tuần thứ nhất, Mẹ Giáo hội gởi đến cho con cái câu chuyện Đức Giêsu bị cám dỗ trong sa mạc, được tác giả thánh là Luca ghi lại, để gợi nhắc về những thách đố, những cám dỗ con người đối diện hàng ngày, cũng như trong niềm tin chân thành nơi mỗi người tín hữu Kitô.

Lắng nghe bài đọc 1 từ sách Đệ nhị luật, chúng ta không khỏi ngạc nhiên với lời nguyện cầu của Môi-sen trong hành trình về đất hứa. Biết bao lần dân riêng của Chúa đã quay lưng lại với sự chăm sóc và bảo vệ của Thiên Chúa, họ kêu trách và xúc phạm đến Thiên Chúa. Bị trừng phạt nghiêm khắc bao lần, nhưng họ cũng không thể bỏ thói quen xấu, vì thế, Môi-sen đã nhắc cho họ rằng: “Tổ phụ con là Aramêô du mục đã đi xuống Ai-cập và sống ở đó như ngoại kiều với một ít người; và đã phát triển thành một dân tộc vĩ đại, hùng mạnh và đông đúc. Các người Ai-cập đã ngược đãi, hành hạ Và bắt chúng con làm việc nặng nhọc. Chúng con đã kêu cầu Chúa là Thiên Chúa cha ông chúng con, và Chúa đã nghe lời chúng con, đã nhìn thấy cảnh thống khổ, cực nhọc và khốn cùng của chúng con. Chúa đã dùng bàn tay mạnh, cánh tay hùng, dùng những biến cố khủng khiếp và những dấu lạ phi thường mà dẫn chúng con ra khỏi Ai-cập. Chúa đưa chúng con đến đây, ban cho chúng con xứ này, một xứ chảy sữa và mật”. Lời nhắc này cho con người thấy tình yêu thương của Thiên Chúa lớn lao dường nào, đồng thời tình yêu đó được hiện thực hóa qua việc chăm sóc, bảo vệ và dạy dỗ họ từng ngày. Và hôm nay, Thiên Chúa vẫn mãi là Đấng tín trung, là Đấng tình yêu viên mãn, luôn yêu thương con người nếu như con người biết chân nhận phận người mong manh và trở về với Ngài, để được yêu và được sống.

Sau khi Đức Giêsu về trời, các tông đồ lên đường loan báo Tin Mừng phục sinh cho các cộng đoàn giáo hội sơ khai, lời chứng của các ông là lời chứng sống động, bên cạnh đó còn có sự hoạt động của Chúa Thánh Thần, thế mà các cộng đoàn, do ảnh hưởng tư tưởng của các dân ngoại bang, chỉ chấp nhận những lời chứng đó như một bài giáo lý đơn giản, chứ chưa đón nhận đó là sự thật, là Tin Mừng cứu độ, vì thế, thánh Phaolô đã nhấn mạnh trong lá thư gởi cộng đoàn giáo hội Roma về ý nghĩa thiêng liêng của Thánh kinh, ý nghĩa cứu độ của Lời Thiên Chúa, ngài viết: “Anh em thân mến, Thánh Kinh nói gi? Lời ở kề trong miệng và trong lòng người. Ðó là lời đức tin mà chúng tôi rao giảng. Vì nếu miệng ngươi tuyên xưng Ðức Giêsu là Chúa, và lòng ngươi tin rằng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại, thì ngươi sẽ được rỗi. Quả thế, tin trong lòng thì sẽ được công chính, tuyên xưng ngoài miệng sẽ được cứu rỗi”. Lời Thiên Chúa vẫn mãi là chân lý, là sự sống cho con người, nếu con người can đảm thay đổi bản thân theo sự hướng dẫn của Lời Chúa, bởi Lời Chúa vẫn mãi là ánh sáng soi lối dẫn đường cho con người nên hoàn thiện. Vì thế, khi con người vừa tuyên xưng niềm tin của mình bằng lời, vừa tuyên xưng bằng đời sống của mình, thì đó là lời chứng về sức mạnh của Lời Thiên Chúa đang hiện diện giữa lòng nhân loại, có ý nghĩa như thế nào.

Mỗi lần bước vào mùa chay, Mẹ Giáo hội luôn mời con cái nghe bài tin mừng thánh Luca trình bày những cơn cám dỗ của Đức Giêsu, trước ngày Ngài bước vào sứ vụ cứu độ của mình. Đứng trước những cơn cám dỗ đó, ma quỷ tạo cho Ngài một cảm giác con đường nào là con đường cứu độ, yếu tố nào là yếu tố quyết định sự sống đời đời cho con người: “Khi ấy, Chúa Giêsu được đầy Thánh Thần, liền rời vùng sông Giođan và được Thánh Thần đưa vào hoang địa ở đó suốt bốn mươi ngày, và chịu ma quỷ cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì và sau thời gian đó, Người đói. Vì thế, ma quỷ đến thưa Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho đá này biến thành bánh đi”. Chúa Giêsu đáp: “Có lời chép rằng: Người ta không phải chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn bằng lời Chúa nữa”. Ma quỷ đã giăng ra một ma trận thật tinh vi và thật quỷ quyệt. Đức Giêsu xuống thế cứu độ con người bằng tình thương và quyền năng của Thiên Chúa, nhưng chúng cho rằng, tiền bạc của cải, địa vị xã hội, quyền bính trong cuộc sống mới là cứu cánh của con người. Ngoài những yếu tố đó, sức mạnh của khoa học, của kỹ thuật sẽ giải thoát con người khỏi mọi gọng kìm của tội lỗi, của sự chết. Tất cả như những lời tiếp thị về viễn cảnh đời sau thật chắc chắn.

Cơn cám dỗ đầu tiên là bánh ăn. Con người vất vả làm việc để có của nuôi thân, để tồn tại. Ma quỷ bảo Đức Giêsu biến hòn đá thành bánh mà ăn. Sự sống con người tồn tại tất cả do của cải vật chất. Đúng là thế, và đó là một sự thật, nhưng chỉ là một nửa sự thật. Đâu chỉ cơm bánh, của cải vật chất quyết định sự tồn tại và sự sống đời sau cho con người. Chúng đã biến một nửa sự thật trở thành một sự thật hiển nhiên, để dụ dỗ con người bỏ Thiên Chúa đi theo những lối mòn của chúng. Quả là tinh vi và đầy xảo quyệt. Đó cũng là một cạm bẩy mà người tín hữu hôm nay đang đối diện trong một xã hội nặng mùi vật chất và của cải.

Cơn cám dỗ thứ hai cũng vậy. Ai có trong tay quyền bính, có trong tay sức mạnh của chiếc ghế quyền lực, sẽ được sung sướng và hạnh phúc cho hôm nay và tương lai. Sự thật hôm nay giống như thế, có trong tay quyền lực, con người sẽ làm được nhiều điều kỳ lạ, hạnh phúc cũng có và đau khổ cũng có. Cuộc chiến nhân loại đang chứng kiến là một điển hình, có quyền lực, có tiền bạc, nhưng không thể thực hiện được tham vọng và đạt được ý muốn, khi việc làm đó phi chính nghĩa và phi đạo đức con người. Ma quỷ đã dùng nửa sự thật về hạnh phúc cuộc đời để cám dỗ con người, nhưng thực tế, hạnh phúc trong cuộc sống của con người đâu chỉ được định đoạt bằng quyền lực, bằng tham vọng. Sự thật là vậy, nhưng người đương thời vẫn lầm tưởng nửa sự thật ma quỷ trình bày là đúng, là chân lý.

Cơn cám dỗ thứ ba là cơn cám dỗ về những gì con người hôm nay đạt được, nhất là về phương diện kỹ thuật. những tiến bộ khoa học của con người giúp họ thấy cuộc sống đáng yêu hơn, đáng sống hơn và đáng trải nghiệm hơn. Thế nhưng, từ lúc có điện thoại thông minh, có mạng lưới điện toán toàn cầu, con người có hạnh phúc hơn không, hay phải đối diện với nhiều nỗi bất hạnh hơn, từ sinh hoạt của mỗi người, đến hạnh phúc nơi mỗi gia đình, người ta có tự do để sống hơn hay bị lệ thuộc vào những thiết bị khoa học đang nằm trước mặt mỗi người đây. Không thiếu những người coi sự tiến bộ vượt bậc đó là sự sống còn của nhân loại, nhưng  có ai biết rằng thế giới đang ngồi trên những thùng thuốc súng hạt nhân khổng lồ, để rồi chỉ một cái nhất nút, cả thế giới này chỉ còn một đống tro tàn không? Ma quỷ đánh vào tham vọng bá chủ thế giới, thay ngôi vị của Thiên Chúa để điều khiển vũ trụ và thế giới này và đó là một điều tất yếu sẽ đến. Họ quên rằng, đó chỉ là một nửa của sự thật hiển nhiên. Nếu con người, vũ trụ này vắng bóng Thiên Chúa trong giây lát, tất cả sẽ đi về đâu?

Cơn cám dỗ cuối cùng là một cơn cám dỗ rất xảo quyệt của ma quỷ. Chúng đã lấy chính Lời của Thiên Chúa để cám dỗ con người, chúng đã dùng sức mạnh và ánh sáng của Lời Chúa để dụ dỗ con người đi vào quỹ đạo sự chết của nó. Người tín hữu Kitô hôm nay, khi đọc Lời Chúa, khi nghe Lời Chúa, cần phải đặt tất cả vào trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa qua sự hướng dẫn của Mẹ Giáo hội, chứ không thể đọc và hiểu theo cách chủ quan của con người được. Không thiếu những bài học đau thương, không thiếu cảnh chia rẽ trong gia đình Giáo hội chỉ vì đọc và hiểu Lời Chúa theo suy nghĩ chủ quan của con người. Đó là một cạm bẫy rất độc đáo của ma quỷ. Bên cạnh đó, những cám dỗ trong đời sống tôn giáo cũng dễ đưa con người đến chỗ lầm tưởng mọi nghi thức đều có giá trị như nhau và đó là sự thật cứu cánh. Trong một xã hội thượng tôn của cải, quyền lực và thành công của con người như thế, ma quỷ sẽ có nhiều thủ đoạn để lôi kéo, dụ dỗ con người xa dần Thiên Chúa, trước những thách đố đó, niềm tin của người tín hữu có đủ lớn, đủ mạnh và đủ xác tín để giữ đạo, để sống đạo theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần không, hay chỉ chạy theo những trào lưu, những hình thức và những truyền thống, và thậm chí coi đó là sự thật cứu độ cho con người.

Lạy Chúa Giêsu, trước khi bước vào sứ mạng của Chúa trên trần gian, Chúa đã đối diện với những mưu mô của ma quỷ, hòng lôi kéo Chúa ra khỏi chương trình cứu độ của Chúa Cha, nhưng Chúa đã vượt qua tất cả nhờ ánh sáng Kinh Thánh, xin cho chúng con luôn cố gắng học hỏi Kinh Thánh theo sự hướng dẫn của Giáo hội, để chúng con tìm thấy sự bình an trong hành trình đức tin của mình, đồng thời giúp chúng con chiến thắng những cám dỗ lôi kéo chúng con xa dần Thiên Chúa. Chúa đem đến cho con người sự thật cứu độ của Thiên Chúa, đó là tin vào Ngài để được sống, xin cho chúng con biết phân biệt sự thật nào sẽ cứu độ chúng con và sự thật nào chỉ là một cạm bẫy trong đời sống đức tin của mình. Amen.

Cơn cám dỗ của hiền thê Đức Kitô
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

“Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” (Mt 6,13). Đây là một trong những lời cầu của Kinh Lạy Cha mà chúng ta vốn thuộc nằm lòng và cũng thường xuyên đọc hằng ngày. Thiên Chúa không muốn và cũng không nỡ để bất cứ ai phải sa chước cám dỗ. Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên, kết hiệp với Thiên Chúa để yêu mến Người, nhận biết thánh ý Người mà thực thi. Có đó không ít người hễ cầu nguyện là chỉ biết cầu xin và thậm chí còn như muốn bắt Chúa làm theo ý của mình. Thiên Chúa đã biết rõ những gì chúng ta cần ngay trước khi chúng ta cầu xin. Đấng Cứu Thế dạy chúng ta cầu nguyện: “xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” là để chúng ta biết rằng Thánh ý Cha trên trời muốn chúng ta phải cẩn trọng với các chước mưu cám dỗ của ma quỷ cũng như của những người xấu và những thế lực đen tối.

Biết cẩn trọng để rồi biết đề phòng các chước cám dỗ bằng cách xa lánh và tìm cách chiến đấu, chống trả cách hữu hiệu khi phải đương đầu với chúng. Để thực hiện mục đích này thì tiên vàn cần nắm rõ chiến thuật, chiến lược của ma quỷ và các thế lực xấu. Đồng thời, chúng ta cũng cần phải biết một cách nào đó các lãnh vực xung yếu mà ma quỷ thích tấn công, cám dỗ chúng ta. Sự thường, môn đệ thì không hơn thầy. Cách thế và những lãnh vực ma quỷ đã cám dỗ Chúa Giêsu thì nó cũng dùng để tấn công chúng ta. Vậy không gì hơn, chúng ta hãy xem xét những chước cám dỗ mà Chúa Giêsu đã chịu trong thời gian chay tịnh ở hoang mạc cũng như trước giờ tử nạn để nhận rõ chước mưu cám dỗ của ma quỷ.

Chiến lược: Nói đến chiến lược thì hầu như chúng ta nghĩ ngay đến sự trường kỳ, lâu dài. Thánh sử Luca cho ta thấy sự thật này: “Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Đức Giêsu, ma quỷ bỏ đi và chờ đợi thời cơ” (Lc 4,13). Trong ba năm rao giảng, Chúa Giêsu đã không ít lần bị ma quỷ cám dỗ. Nó không chỉ cám dỗ Người khi Người chay tịnh 40 đêm ngày trong hoang mạc mà còn cám dỗ Người nhiều lần và nhiều cách thế khác nhau. Sau khi Người hóa bánh ra nhiều thì ma quỷ dùng quần chúng để cám dỗ Người làm vua (x.Ga 6,1-15). Nó cũng dùng cả người môn đệ thân tín của Người là Phêrô để cám dỗ Người đừng lên Giêrusalem chịu khổ nạn (x.Mt 16,21-23). Ngay phút giây Người hấp hối trên thập giá thì ma quỷ vẫn không buông tha (x.Mc 15,29-39).

Chiến thuật: Qua câu chuyện Chúa Giêsu chịu cám dỗ trong hoang mạc, chúng ta nhận ra một trong những chiến thuật tinh ranh của ma quỷ là đánh ngay vào chính khả năng của người mà nó cám dỗ. Một kiểu đánh quả là độc chiêu. Không ai lại không ít nhiều tự hào về khả năng của mình. Khi hướng được khả năng của ai đó đi theo chiều của mình, theo cung cách của mình thì chúng ta hầu chắc nắm phần thắng trong tay. Ma quỷ xúi giục Chúa Giêsu sử dụng khả năng, uy quyền của Người theo cách thế nó bày vẽ ra và dĩ nhiên là trái với thánh ý Chúa Cha. Cái tinh xảo của ma quỷ ở chỗ nó không minh nhiên làm đổi hẳn mục tiêu mà Chúa Giêsu nhắm đến. Nó chỉ làm lệch đi một chút hoặc xúi giục Chúa Giêsu đạt đến mục tiêu theo cách thức không đẹp lòng Chúa Cha mà thôi. Chiến thuật xảo quyệt của ma quỷ lộ diện cách rõ nét qua các chước cám dỗ trong hoang mạc và những giờ trước khi Chúa Giêsu chịu tử nạn. Chiến thuật này có thể xem là chiến thuật mang tính tổng lực và toàn diện.

Ngạn ngữ “biết người - biết ta, trăm trận trăm thắng” có thể nói là một quy luật mang tính phổ biến trong các cuộc chiến. Chúng ta biết về ma quỷ thì chẳng bao nhiêu, nhưng chắc chắn ma quỷ biết chúng ta nhiều và rõ hơn chúng ta biết về nó. Ma quỷ thừa biết khả năng cũng như quyền hạn của các mục tử trong giáo hội. Một điều chắc chắn đó là nó sẽ không hề bỏ lỡ một cơ hội dù nhỏ để cám dỗ chúng ta hành quyền cách lệch lạc. Dĩ nhiên nó sẽ không dại gì cám dỗ chúng ta hành quyền kiểu đi ngược đường lối của Thiên Chúa cách tức khắc, một lần, nhưng chỉ lệch một tí thôi. Từng lần, mỗi lần lệch một chút, lệch vài độ nhỏ, thì rồi sẽ đến lúc lệch 180 độ.

Trong vai vị lãnh đạo mà hành xử quyền bính cách độc đoán, độc tài, thì sẽ làm cho đoàn chiên phân đàn, chia cánh, cắn xé lẫn nhau. Sự nguy hại này thường tồn tại lâu dài và cũng rất khó khắc phục ngày một ngày hai. Lịch sử Giáo hội cho chúng ta bài học đau thương này: để gây chia rẽ, để làm đổ vỡ thì rất dễ. Trái lại để hàn gắn các đổ vỡ, xây dựng lại sự hiệp nhất thì quả là vô vàn khó khăn và đòi hỏi thời gian rất lâu dài. Lẽ thường từ chỗ độc đoán, độc tài ắt sẽ dẫn đến sự độc ác, dù nhiều khi không có chủ ý xấu nhưng hậu quả thì khó lường. Người ta thường dễ lượng thứ cho sự yếu đuối và cả sự mê muội, nhưng sự độc ác thì rất khó mà tha thứ hay bỏ qua. Tin Mừng cho thấy, ba năm theo Thầy, các tông đồ thường xuyên bị cám dỗ về quyền bính.

Căn cứ vào những lời Chúa Giêsu dùng để chống trả chước cám dỗ, đặc biệt các chước cám dỗ thưở đầu đời công khai rao giảng của Người và phút giây hấp hối trong vườn dầu cũng như trên núi sọ, chúng ta có thể thấy được các lãnh vực mà ma quỷ tấn công Người.

Chước cám dỗ về lòng mến: Một trong những sứ mạng chính yếu của Chúa Kitô khi đến thế gian đó là mạc khải cách hoàn hảo chân dung Thiên Chúa là Đấng toàn năng và đầy lòng thương xót cho nhân loại. Chân dung của Đấng Toàn Năng chí ái được biểu lộ qua chính con người, cuộc đời, những lời giảng dạy, việc làm của Người, Giêsu Kitô, vị mục tử nhân lành luôn hết tình vì đàn chiên và từng con chiên đến độ sẵn sàng hy sinh cả mạng sống mình. “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Ma quỷ đâu có cám dỗ Chúa Giêsu không yêu thương con người, nhưng nó cám dỗ Người yêu thương cách “phiếm diện”. Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy truyền cho hòn đá này hóa thành bánh đi. Chúa Giêsu đã đáp lại: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn nhờ mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,3-4).

Không riêng gì Kitô hữu, bà con lương dân, anh chị em khác đạo, kể cả người vô thần đều công nhận rằng người ta không chỉ sống bằng cơm bánh. Ngoài chuyện cơm áo gạo tiền thì con người cũng cần đến nhiều điều khác như học hành, giải trí, nghệ thuật, tâm linh… Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể nói ngược lại câu trích dẫn của Chúa Giêsu mà không sợ sai lầm. Người ta sống không nguyên chỉ nhờ lương thực tinh thần mà còn phải cần đến bánh, cơm, gạo, tiền... Con người là hữu thể xác hồn duy nhất hay nói như các triết gia là tinh thần nhập thể. “Không ai là một hòn đảo”. Con người không hiện hữu đơn độc mà còn có tính xã hội. Để sống, tồn tại và phát triển thì con người luôn cần đến nhau, cần đến các cơ chế, luật lệ… Như thế để yêu thương con người cách toàn diện thì chúng ta không chỉ nghĩ đến lương thực vật chất hay tinh thần mà còn phải biết nghĩ đến môi trường sống, một lãnh vực nền tảng để con người tồn tại, phát triển và đạt được hạnh phúc vốn được gọi là công ích.

Ma quỷ thừa biết điều này và nó đã, đang cũng như sẽ mãi cám dỗ con người, đặc biệt cám dỗ Hiền Thê Đức Kitô sống đức ái cách phiếm diện. Chước cám dỗ xui khiến chúng ta yêu thương nhau là chỉ giúp nhau về vật chất của cải thì dễ nhận ra. Bởi chưng cái hậu quả của việc sa chước cám dỗ này thường nhãn tiền và dễ thấy. Dòng lịch sử Giáo hội ghi lại không ít hiện tượng này đó đây. Tuy nhiên, chước cám dỗ xui khiến chúng ta yêu thương nhau là chỉ lo phần hồn, lo chuyện thiêng liêng thì quả thật khó nhận diện. Ngay cả với Mẹ Giáo hội, từ thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tự do chính trị bành trướng, đã dần mất hết các quyền lực trần thế thì đã tự co cụm lại trong pháo đài của mình. Chính trong hoàn cảnh này thì chước cám dỗ ma quỷ giăng ra lại hướng mục tiêu vào ngay bản thân Giáo hội. Bị hạn chế về các hoạt động trần thế thì chúng ta quay về với chuyện thiêng liêng. Vì thế Giáo hội đã quá nghiêng chiều về việc chỉ lo cứu rỗi các linh hồn. Chỉ lo cứu các linh hồn hay chỉ lo chuyện thiêng liêng thì cũng là một cách sa chước cám dỗ. Nếu chỉ thương xót linh hồn thì chưa phải là yêu thương con người đúng nghĩa.

Con người không phải là linh hồn. Hơn nữa khi chủ trương rằng chỉ lo chuyện linh hồn thì vô tình chúng ta rơi vào quan niệm nhị nguyên, chưa kể đến chuyện đánh lận con đen, tranh tối tranh sáng, khó bề kiểm chứng. Cũng có khi vì cái cớ lo chuyện linh hồn mà chúng ta đã thoái thác nhiều nghĩa vụ yêu thương phải thực thi theo giới luật mới mà Thầy Chí Thánh truyền dạy. Xin đừng quên Chúa Giêsu đã từng cụ thể hóa luật yêu thương bằng câu chuyện người Samaritanô nhân hậu (x.Lc 10,29-37). Đọc Tin Mừng chúng ta thấy rõ điều này: Chúa Giêsu trong ba năm rao giảng, công việc chính của Người là giảng dạy, chữa lành bệnh tật và xua trừ ma quỷ. Và khi sai các môn sinh đi thực tập truyền giáo, Người cũng truyền cho các vị thực thi những điều ấy: rao giảng tin mừng, chữa lành bệnh tật và xua trừ ma quỷ.

Con người không chỉ sống bằng cơm bánh, con người cũng không chỉ sống bằng nguồn dinh dưỡng tinh thần, nhưng con người còn sống nhờ tha nhân, xã hội, các thể chế chính trị, các đường lối phát triển kinh tế, xã hội… Đã yêu con người thì cần phải quan tâm đến con người cách toàn diện. Thời gian gần đây, Giáo hội đã có nhiều nỗ lực thể hiện sự quan tâm của mình trong các lãnh vực được gọi là trần thế như: lao động, công bình, công ích…, đặc biệt từ sau Công Đồng Vatican II, với các hoạt động của thánh Bộ Công Lý và Hòa Bình. Tuy nhiên chước cám dỗ vẫn còn đó với nhiều Giáo hội địa phương khi mà dường như chuyện trần thế còn được xem như là không phải công việc của mình. Quả thật, không thể nói mình yêu thương nhau khi chúng ta còn hững hờ hay bỏ qua một khía cạnh căn bản nào đó trong đời sống của nhau. Những vấn đề về xã hội đã được Giáo hội lên tiếng hướng dẫn. Nhưng thử hỏi có được bao nhiêu vị trong hàng linh mục, tu sĩ đã đọc Thông điệp Rerum Novarum của Đức Lêô XIII. Gần đây Bộ Công Lý và Hòa Bình đã tổng hợp giáo huấn của Giáo hội về các vấn đề xã hội trong quyển “Compendium of the social doctrine of the Church” xuất bản năm 2004 thì đã được bao nhiêu người nắm được nội dung. Giới linh mục và tu sĩ còn vậy, thế thì anh chị em tín hữu giáo dân sẽ ra sao đây?

Chước cám dỗ về Đức Cậy: “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (Mt 4,7; Lc 4,12). Khi nghe Chúa Giêsu dùng câu trích Lời Chúa trên đây để chống lại ma quỷ thì chúng ta dễ nhận ra trọng tâm của chước cám dỗ là hướng vào Đức trông cậy. Giáo lý Công giáo dạy rằng có hai tội phạm đến Đức trông cậy: một là tuyệt vọng, thiếu tin tưởng vào tình thương của Chúa và hai là chỉ dựa vào sức mình hoặc quả ỷ lại vào tình thương của Chúa. (x.GLCG chung số 2090-2091).

Bị cám dỗ tuyệt vọng hay thiếu tin tưởng vào tình thương của Chúa thì vẫn có đó, nhưng xét cho cùng chước cám dỗ này tương đối dễ nhận ra. Chẳng biết ma quỷ có thành công nhiều trong chước mưu cám dỗ này đến đâu, tuy nhiên chúng ta thấy trong đoàn con cái Chúa, số người tuyệt vọng không mấy nhiều, nếu xét hình thức bên ngoài. Giả như có ai đó có biểu hiện tuyệt vọng thì bà con đồng đạo sớm nhận ra ngay và dĩ nhiên sẽ động viên giúp đỡ nhau cách này cách khác. Người rơi vào tình trạng này rất dễ nhận được sự cảm thông và lòng thương xót của tha nhân. Chẳng hạn với các trường hợp tự vẫn thì ngày nay người ta đã có thái độ khoan dung hơn nhiều, vì nhờ biết cảm thông hơn.

Sa vào chước cám dỗ chỉ dựa vào sức riêng mình thì tai hại khôn lường. Không riêng người Kitô hữu mà bà con lương dân, anh chị em khác đạo cũng dễ dàng thấy được cái nguy cơ của những người chỉ dựa vào sức mình. Không chỉ bất cần đến sự che chở, phù trì của trời cao, những người chỉ dựa vào sức riêng mình cũng bất cần cả sự giúp đỡ của tha nhân. Những người này thường hứng nhận hậu quả hay quả báo nhãn tiền ngay ở đời này. Chính vì thế chúng ta không quá khó nhận ra chước mưu cám dỗ của quỷ ma.

Trái lại, chước cám dỗ xui khiến chúng ta quả ỷ lại vào tình thương và quyền năng của Thiên Chúa thì thật tinh tế và xảo quyệt. Chước cám dỗ này thường xuất hiện dưới nhiều hình thức bên ngoài với dáng vẻ đạo đức, thành kính, kể cả cậy trông! Khi rơi vào chước cám dỗ này, đương sự khó nhận biết và tha nhân cũng khó phát hiện. Ai lại không cảm phục người tin tưởng vào quyền năng và tình thương của Thiên Chúa? Thế nhưng chính khi rơi vào chước cám dỗ này, một cách nào đó chúng ta đã thử thách Chúa là Thiên Chúa chúng ta. Bắt Thiên Chúa phải làm thay, giao khoán tất cả cho Thiên Chúa bằng việc phủi tay, thoái thác trách nhiệm hoặc bằng cách chỉ biết cầu nguyện, cầu xin mà thôi thì vô tình hay hữu ý chúng ta đã để mình chiều theo chước cám dỗ lỗi đức trông cậy. Có thể xác quyết rằng những người đạo đức theo “truyền thống”, những người vị trọng, chức cao trong Giáo hội rất dễ rơi vào tình trạng này. Và cái nguy hiểm lớn nhất đó là những người đang ở trong chước cám dỗ này lại chẳng biết, chẳng hay. Và rồi người ta có cớ để ẩn mình trong thái độ thụ động, thiếu dấn thân, không dám quên mình, đặc biệt khi công lý đòi hỏi phải được bảo vệ.

Người biết sống Đức Cậy không phải là chỉ biết chuyên chăm cầu nguyện, cầu xin, nhưng còn phải biết tận dụng những hồng ân Chúa ban là các khả năng trí khôn, sức khỏe, thời giờ, tiền bạc…để làm cho Danh Chúa được cả sáng, Nước Chúa trị đến, Ý Chúa được thể hiện… Tin Mừng cho chúng ta thấy rõ đó là Chúa Giêsu chuyên chăm cầu nguyện, tìm kiếm Thánh Ý Chúa Cha để rồi tích cực thực thi. Điểm đến của việc cầu nguyện là để kết hiệp với Chúa, yêu mến Chúa, nhận biết Thánh ý mà thực thi, dĩ nhiên là trong niềm tin vào tình yêu và ân sủng của Người.

Xin được nhắc lại rằng thái độ chỉ biết cầu nguyện trong sự thụ động khoanh tay cứ để cho mình hoặc mặc cho tha nhân ở lâu trong “tình trạng cheo leo” (khốn khổ, bất công, bị tước đoạt nhân vị cùng với những quyền lợi chính đáng…) rồi ngồi chờ hoặc cách nào đó “bắt” Thiên Chúa phải ra tay can thiệp, chính là một sự nghiêng chiều theo chước cám dỗ lỗi đức Trông Cậy.

Chước cám dỗ về Đức Thờ Phượng: “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người thôi” (Mt 4,10; Lc 4,8). Mẹ Giáo hội dạy chúng ta: “Hành vi đầu tiên của nhân đức thờ phượng là thờ lạy Thiên Chúa, nghĩa là nhận biết Người là Thiên Chúa, là Đấng Sáng Tạo và Cứu Chuộc, là Chúa và là Thầy của mọi loài, là Tình Yêu vô biên và giàu lòng thương xót…Thờ lạy Thiên Chúa là tôn kính và tuyệt đối thần phục Người vì nhận biết “tính hư không của thụ tạo”, biết sự hiện hữu của chúng ta, hạnh phúc vĩnh hằng của chúng ta hoàn toàn nằm trong tay Người…Việc thờ lạy Thiên Chúa duy nhất, giải thoát con người khỏi thái độ khép kín, khỏi nô lệ tội lỗi và sự sùng bái thế giới ngẫu tượng.” (x.GLCG chung sô 2096-2097).

Sùng bái các loài thụ tạo, suy tôn các thế lực thụ tạo chính là hành vi lỗi phạm đến đức thờ phượng. Một trong những chước cám dỗ ma quỷ xúi giục Chúa Giêsu năm xưa cũng như xúi giục Hiền Thê của Người qua mọi thời là tin vào quyền năng của các thế lực thụ tạo. Lịch sử Giáo hội một cách nào đó cho chúng ta thấy ảnh hưởng của chước cám dỗ. Từ năm 313 với sắc chỉ Milan, Giáo hội dường như thấy được sự hữu hiệu của thế lực trần thế nên đã có phần cậy dựa vào nó. Không chỉ cậy dựa mà có khi Giáo hội còn lợi dụng thế quyền cho việc đạo và có khi chính mình hành xử như một thế lực trần tục. Với sự trở lại của Vua Clovis năm 498 khiến cho toàn dân nước Pháp bấy giờ cùng theo đạo thì chước cám dỗ như tăng phần mãnh lực.

Để có hiệu năng, có thành quả lớn trong việc thiêng thánh thì người ta cũng dễ bị cám dỗ thỏa hiệp cách nào đó với các thế lực thụ tạo, và chúng ta đã “sùng bái” thụ tạo cách vô tình mà chẳng hay. Những cuộc thánh chiến, những lần theo đoàn viễn chinh để đi truyền giáo phải chăng không cho thấy sự cậy dựa của chúng ta vào các mãnh lực trần thế này khiến cho Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhiều lần thành khẩn xin lỗi công khai? Nói rằng chúng ta đã suy tôn chúng thì quả là hàm hồ nhưng xem chúng là một trong những động lực chính của sự thành công thì dường như không sai. Chuyện “xì căng đan” của hàng giáo sĩ Hội Thánh Ba Lan trong thời cộng sản đã từng là chuyện thời sự và cũng là bằng chứng về sự hiện hữu của chước cám dỗ tinh vi và độc hại này. Hy vọng rằng bài học đau thương này không tái diễn nơi các giáo hội địa phương khác.

Đến khi không nắm được các thế lực trần gian thì chúng ta lại rơi vào việc tự thần thánh hóa chính mình. Giáo hội là một xã hội hoàn hảo (Societas Perfecta). Cái khái niệm được xem là “tự huyễn hoặc” này đã từng kéo dài cho đến Công Đồng Vatican II. Mình không thể sai lầm, chỉ có mình mới nắm giữ trọn vẹn chân lý cũng là một trong những cách thế đặt mình thành ngẫu tượng. Chước cám dỗ ấy còn len lõi vào trong cung cách sống đạo. Nhiều anh em luơng dân hay bà con khác đạo nghĩ rằng “cứ nói nhiều là sẽ được nhận lời” (Mt 6,7). Nghĩa là khi đã thực hiện đủ một số công thức, kinh kệ nào đó thì thần minh phải thực hiện điều mình muốn. Bắt Thiên Chúa tự động (automatic) thực hiện điều mình quy định hay kiểu thức mình đặt ra đúng là một cám dỗ lỗi đức thờ phuợng tinh tế. Chước cám dỗ kiểu dạng ma thuật vẫn phảng phất đâu đó trong các cử hành bí tích, á bí tích. Nếu không tỉnh táo, cẩn mật đề phòng thì cả đến đấng bậc được xem là có thánh chức cũng sa vào, nhất là với cái nhìn “bí tích học” về tính tại sự (ex opere operato) một cách máy móc.

Điều quan trọng là xem xét thánh ý Thiên Chúa. Nếu ỷ lại vào các quy chế do chính chúng ta đặt định để cho rằng mình có quyền ban ân lộc thánh thiêng thì cũng là một cách ngẫu tượng hóa bản thân. Chuyện còn tính thời sự đó là nhiều cuộc tấn phong giám mục tại Trung Quốc dù cho là có “thành sự” (valide) nhưng không “hợp pháp” (licite), dĩ nhiên bị tuyệt thông tiền kết (GL Đ.1382). Đây là tình trạng xấu, thế nhưng chỉ sau một “hiệp ước” giữa Tòa Thánh với Chính quyền dân sự thì tình trạng ấy từ xấu trở thành “tốt ngay”! Thiết nghĩ rằng nếu “dùng đức tin mà bù lại” thì cũng có phần khiên cưỡng cách nào đó. Ngẫu tượng hóa bản thân thì vẫn còn dễ nhận biết, nhưng ngẫu tượng hóa tập thể hay cơ chế thì khó phát hiện. Tôn vinh một cơ chế nào đó, một tập thể nào đó lên hàng muôn năm, lên hàng bất diệt là sa vào chước cám dỗ thờ ngẫu tượng. Chước cám dỗ xưa đã khuất phục tổ tiên chúng ta nay như mãi đeo đẳng con cái loài người, kể cả Hiền Thê Đức Kitô.

Có thể nói Đức thờ phượng là hiện thực hóa Đức Tin. Chân lý nền tảng chúng ta tin nhận đó là chỉ có một Thiên Chúa duy nhất là Đấng Tạo Thành và là Cha của hết mọi người, vì thế chúng ta phải tôn thờ, thần phục và yêu mến chỉ mình Người trên hết mọi sự, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực. Ngoài Người ra thì không có thần minh nào hết. Thế nhưng trong thực tế nhiều khi chúng ta lại suy tôn nhiều thực thể nhân loại lên hàng thần thánh! Kinh tin kính thời các thánh Tông đồ chỉ rõ ngay đến Giáo hội cũng chỉ là đối tượng của sự tin có chứ không phải là tin kính.

Thế nhưng hình như vẫn có đó việc vô tình hay vô tri, chúng ta vĩnh cửu hóa một phương thế Chúa Giêsu thiết lập vốn mang tình thời gian. Có nhiều đấng bậc cảm thấy bị xúc phạm khi nghe nói đến chước cám dỗ của Hiền thê Chúa Kitô, trong khi đó vẫn thấy bình thường khi nghe đề cập đến các chước cám dỗ của chính Đấng Sáng lập nên Giáo hội. Phải chăng đã có lúc, có khi chúng ta nói về Giáo hội nhiều hơn là nói về Thiên Chúa, nhất là khi chúng ta đón nhận một vị trí, vai trò chủ chăn nào đó? Việc đánh lận con đen cũng là một lỗi nghịch với đức thờ phượng, với đức tin. Chống cha là chống Chúa, nói đụng đến giám mục là chống phá Giáo hội, là xúc phạm đến Thiên Chúa. Những lập luận trên đây không luôn hữu lý mà nhiều khi lỗi đức thờ phượng vì chúng ta vô tình thờ ngẫu tượng mà chẳng hay.

Cơn cám dỗ cuối cùng: Ở đây, không chủ ý nói đến cuốn tiểu thuyết “Cơn cám dỗ cuối cùng của Chúa Kitô” (The last temptation of Christ) của nhà văn Hy Lạp Nikos Kazantkasis. Tuy nhiên, đọc Tin Mừng chúng ta phải chân nhận rằng quãng thời gian Chúa Kitô bị cám dỗ quyết liệt nhất đó là những giờ trong vườn dầu và trên cây thập giá. Có lẽ viễn ảnh khổ giá là một thử thách to lớn đối với Chúa Giêsu. Thế nhưng trong thời gian rao giảng, Người đã thoáng hình dung khổ hình thập giá sẽ chịu. Theo thiển ý, có lẽ điều cám dỗ Chúa Giêsu nặng nề nhất đó là sự thất bại, mất cả chì lẫn cả chài, “xôi hỏng, bỏng tay”. “Êlôi, Êlôi, lamasabacthani! Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con!” (Mc 15,34).

Nói đến chước cám dỗ về hiệu năng. Mong nhìn thấy kết quả là chước cám dỗ phổ biến nơi nhiều người, cách riêng với những ai có chút tài và chút tâm. Dẫu biết rằng “thất bại là mẹ thành công” nhưng cũng thật khó lòng đón nhận thất bại cách thanh thản, nhất là khi vì sự thất bại ấy mà ta dường như mất tất cả. Đã làm điều gì đó thì ai cũng mong sẽ thành công, sẽ đạt kết quả. Chính vì thế, ma quỷ khôn ranh cho chúng ta thoáng thấy sự uổng công, sự thua cuộc và cả sự thất bại để rồi chúng ta e ngại, dừng bước, khoanh tay.

Đứng trước tình trạng nhiễu nhương của xã hội hôm nay, tình cảnh chiến tranh loạn lạc của thế giới, nhiều hiện tượng bất ổn trong Giáo hội, đặc biệt liên quan đến hàng giáo sĩ từ cấp nhỏ đến cấp lớn, có đó không ít người có chút tâm và chút tài đã ngần ngại, e dè vì thoáng thấy sự thất bại trước mắt nếu can đảm lội dòng nước ngược. Một con chim én khó có thể và như không thể làm nên mùa xuân. Và số phận của nó chắc gì còn cánh, còn lông! Không chừng còn bị chê bai là thiếu khôn ngoan, là nóng vội, là bốc đồng, là hiếu thắng. Có khi lại bị quy chụp là phản động, là rối đạo. Và khi đã bị thua cuộc thì rất có thể bị dè bỉu rằng nếu nó làm đẹp lòng Chúa thì Chúa phải bênh đỡ nó chứ! (x.Mt 27,39-44).

Đã không thành công lại còn có thể mất thanh danh, mất chức vị, quyền hạn… thì thật là điều khó vượt qua. Dù rằng đã phải khuất phục trước Chúa Kitô, trước các thánh tử đạo… nhưng ma quỷ cũng đã nhiều lần thành công trong chước cám dỗ này với Hiền Thê của Người theo dòng lịch sử. Cơn cám dỗ cuối cùng luôn có đó với từng người chúng ta. Mùa chay thánh lại về, theo lời mời gọi của các vị cha chung của Giáo hội, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Đức Bênêđictô XVI đang nghỉ hưu, và Đức đương nhiệm, Phanxicô, chớ gì ta chuyên chăm ngắm nhìn thập giá mà học biết yêu thương trong sự can đảm chết đi để được phục sinh, can đảm đón nhận sự thất bại để cùng chiến thắng với Người.

Vai trò của người lãnh đạo trong các cuộc chiến:

Trong các cuộc chiến người ta dễ nhận ra quy luật này: “mạnh ở tướng chứ mạnh gì quân”. Đêm Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã từng nói rằng khi chủ chăn bị đánh tơi tả thì đàn chiên sẽ bị tan tác (x.Mt 26,31). Xin mạo muội đề nghị một giải pháp dành riêng cho các mục tử để chiến đấu với thần dữ trước các chước mưu cám dỗ của nó, đó là quy chiếu Giao ước mới, Giao ước vĩnh cửu: Mầu nhiệm Thánh Thể Chúa Kitô.

Nói đến Giao ước chúng ta có thể hiểu cách phổ thông như là một bản ký kết, một bản hợp đồng giữa hai bên tự nguyện chịu trách nhiệm một hay nhiều phận vụ nào đó và dĩ nhiên sẽ được hưởng một hay nhiều quyền lợi kèm theo. Qua bản hợp đồng thì quyết định tự do đầy tinh thần trách nhiệm được cụ thể hóa cách dứt khoát. Và rồi chính bản hợp đồng là căn cứ, là cơ sở để giải quyết những thiếu sót hay những sự tắc trách vì vô tình hay chủ tâm của bên này hay của phía kia. Các hợp đồng dân sự  giữa các pháp nhân tư hay pháp nhân công thì đều có tính giới hạn. Chúng có thể bổ sung, thay đổi hay hết hiệu lực vì nhiều lý do như hết thời hạn hoặc một phía hoàn toàn không có khả năng thực hiện hoặc mất tư cách pháp nhân…

Chúa Kitô đã mình nhiên thiết lập Giao ước mới, Giao ước vĩnh cửu bằng chính thịt máu của Người. Đây là một “hợp đồng” có giá trị cho đến khi trời mới đất mới xuất hiện. Giao ước này chính là cuộc chiến thắng chung cuộc của Chúa Kitô trên thần dữ. Một hành vi được viên đầy giá trị ngay chính khi được quyết định cách dứt khoát. Giáo hội tin rằng khi lập Bí tích Thánh Thể trong đêm Tiệc Ly là lúc Chúa Kitô quyết định cách dứt khoát vâng phục thánh Ý Chúa Cha, thể hiện một tình yêu đến cùng là hiến dâng mạng sống vì nhân loại mà hy tế thập giá là điểm đến hay là sự biểu hiện. Chính vì thế mà mỗi lần Bí tích Thánh Thể được cử hành thì Giáo hội nhìn nhận là Hy tế thập giá Chúa Kitô được hiện tại hóa. Chính yếu tố “hiện tại hóa” Hy tế cứu độ của Bí Tích Thánh Thể giúp chúng ta đủ sức trường kỳ chiến đấu với thần dữ mưu ma.

“Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Giáo hội căn cứ những lời trên đây để xác quyết việc Chúa Kitô lập bí tích truyền chức thánh. Không dám mạn bàn về thần học bí tích, tuy nhiên khi nhìn vào nội hàm của lời truyền Đấng Cứu Độ đêm Tiệc Ly thì chỉ có hàng giám mục và linh mục là những người có năng cách thực thi những điều được truyền là cử hành nhiệm tích Thánh Thể mà không có hàng phó tế, dù cũng là thuộc bí tích truyền chức thánh. Xin được bỏ qua vấn đề này để tập chú vào mối liên hệ hữu cơ giữa hàng tư tế thừa tác với Giao ước mới, Giao ước vĩnh cửu. Sự hiện hữu của hàng tư tế thừa tác theo ý Đấng Cứu thế, là để cho Giao ước mới hiện diện và phát huy hiệu quả theo dòng thời gian. Chính các thừa tác viên Thánh Thể là những người thể hiện Giao ước này. Hội Thánh khẳng định chân lý này khi tuyên bố rằng lúc giám mục hay linh mục đọc lời truyền phép là đọc trong tư cách Chúa Kitô (in personna Christi) (Không đọc: “Này là Mình Chúa Kitô” mà đọc “Này là Mình Thầy”…Trước đây dịch: “Này là Mình Ta”).

Nếu lỡ vì lý do nào đó mà các tư tế thừa tác sa chước cám dỗ thì thiển nghĩ rằng không gì hơn hãy trở về với “bản hợp đồng vĩnh cửu” để quy chiếu hầu chỉnh sửa những sai lầm. Chính khi biết hiến dâng trọn xác thân của mình trong tình liên đới với nhân loại tội lỗi (Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì anh em), thì chúng ta đang thể hiện tình yêu mến Thiên Chúa qua sự vâng phục Thánh ý Người là chọn lấy phương thế tuyệt hảo để bày tỏ tình yêu của Người cho nhân loại. Ai yêu mến Chúa thì thực thi lời người chỉ dạy. “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Nội hàm của “việc này” là noi gương Thầy Chí Thánh nhiệt thành giảng dạy chân lý, gắng công vuông tròn phận vụ người mục tử, và hơn nữa, người tư tế thừa tác cần biết can đảm dùng chính máu thịt của mình để cho tha nhân đón nhận sự sống và ơn tha thứ của Thiên Chúa. Sống bí tích Thánh Thể là một cách thế biểu lộ lòng mến và sự cậy trông tuyệt hảo.

Mọi sự lành đều bởi Chúa mà ra. Ơn cứu độ là quà tặng hoàn toàn nhưng không. “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19,30). “Con xin phó dâng linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Giao ước mới minh định rằng những gì chúng ta đang có, đang là, đều do bởi lãnh nhận. Việc Chúa Kitô hiến dâng toàn thân cho Chúa Cha nhắc nhớ cho chúng ta chân lý nền tảng của đức tin để rồi biết cách thế thờ phượng Thiên Chúa cho xứng, cho phải đạo. Mọi sự đều là của Thiên Chúa và phải dâng về cho Thiên Chúa. Giáo hội khẳng định chân lý này khi dạy chúng ta rằng Thánh Lễ là trung tâm của đời sống Kitô hữu và là đỉnh cao của hành vi thờ phượng.

Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ: một lời cầu xin mãi luôn mang tính hiện sinh và cảnh tỉnh chúng ta, mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh. Cầu xin là để nhận biết chước cám dỗ để mà xa lánh hay đề phòng, nhất là để biết cách thế chống trả hữu hiệu. Thánh Tông đồ cả Phêrô cảnh giác chúng ta rằng ma quỷ như sử tử gầm gừ rảo quanh chúng ta rình chờ cắn xé (x.1P 5,8). Vấn đề đặt ra đó là rất nhiều khi chính chúng ta không nhận ra tình trạng sa chước cám dỗ của mình. Là Kitô hữu, đặc biệt là những tư tế thừa tác, không gì hơn hãy luôn bám sát “bản hợp đồng” là Giao Ước mới, Giao Ước vĩnh cửu để chấn chỉnh, sửa sai và để biết cách thế chống trả chước mưu cám dỗ của thần dữ. Tin rằng một tư tế thừa tác thường xuyên ý thức và sống nội hàm những gì mình cử hành trong hy tế Thánh Thể hằng ngày thì chắc chắn sẽ khó lạc đường, sa chước cám dỗ mà nếu có thì cũng nhanh chóng chỗi dậy và trở về.

Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...