TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

CN10TN-A Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô

“Thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống”. (Ga 6, 51-59)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

Lời Chúa THỨ BẢY TUẦN 10 THƯỜNG NIÊN

Thứ sáu - 05/06/2026 14:11 |   25
“Mẹ Người ghi nhớ những việc đó trong lòng” (Lc 2, 41-51)

13/06/2026
thứ bảy tuần 10 THƯỜNG NIÊN
Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ

Mẫu Tâm

Lc 2,41-51

SỰ CAO CẢ CỦA TRÁI TIM MẸ
 
Suy niệm: Mẹ Ma-ri-a được đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, “trái tim” Mẹ cũng “vô nhiễm” và tràn đầy tình yêu thuần khiết và nồng cháy. Chính tình yêu ấy đã giúp Đức Ma-ri-a phản ứng đầy khoan dung trước nghịch cảnh. Dù trải qua ba ngày dài lo âu và vất vả tìm kiếm người con bị lạc mất, Đức Ma-ri-a vẫn dịu dàng: “Con ơi, sao con lại làm cho cha mẹ như thế? Con thấy không, cha con và mẹ đây đang phải cực lòng tìm con!” Sự dịu dàng của Đức Mẹ dành cho nhân loại cũng phát xuất từ lòng từ bi bao la của Mẹ. Mẹ luôn dõi nhìn loài người với tâm thế thấu cảm, sẵn sàng sẻ chia mọi nỗi thống khổ của đoàn con cái. Tình yêu mẫu tử này không chỉ có sức mạnh dạy dỗ mà còn là điểm tựa vững chắc, nâng đỡ những lữ khách trên hành trình tiến về Quê Trời.
 
Mời Bạn: Có tình yêu sẽ có sức mạnh cảm hóa diệu kỳ. Tâm hồn chúng ta sẽ ngày càng nên giống với Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ khi chúng ta năng chạy đến với Mẹ và học theo gương thánh thiện của Mẹ. Chính vì thế, Giáo hội không ngừng khuyến khích các tín hữu thực hành lòng sùng kính đối với Mẹ. Khi chúng ta sốt sắng thực hiện những việc sùng kính ấy, chúng ta đang được tựa sát vào trái tim từ ái của Mẹ.

Sống Lời Chúa: Chiêm ngắm trái tim dịu hiền của Mẹ Ma-ri-a khi Mẹ gặp lại con trong đền thờ.

Cầu nguyện: Lạy Mẹ Ma-ri-a, xin dạy con giữ lòng hiền hậu và nhẫn nại giữa những thử thách, để luôn đối xử với tha nhân bằng sự bao dung thay vì lời cay nghiệt. Lạy Mẹ từ bi, xin thương xoa dịu nỗi đau nhân loại và nâng đỡ hồn con trên hành trình tiến về Quê Trời. Amen.

BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ   

Ca nhập lễ

Lạy Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, phúc thay đã cưu mang Đấng tạo thành muôn vật, đã sinh ra Đấng tác tạo Mẹ, và Mẹ sẽ còn đồng trinh đến muôn đời.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Thiên Chúa chí thánh, Chúa đã làm cho Trái Tim Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a nên cung điện xứng đáng của Chúa Thánh Thần, vì lời Ðức Trinh Nữ chuyển cầu xin thương giúp chúng con cũng trở nên đền thờ Chúa ngự. Chúng con cầu xin…

Bài đọc I: Is 61, 9-11

“Tôi hớn hở vui mừng trong Chúa”.

Trích sách tiên tri Isaia.

Dòng dõi chúng sẽ được nổi danh giữa các dân tộc; miêu duệ chúng sẽ được biết đến giữa chư dân. Tất cả những ai thấy họ, đều nhận biết họ là dòng dõi được Chúa chúc phúc. Tôi hớn hở vui mừng trong Chúa, và lòng tôi hoan hỉ trong Chúa tôi, vì Người đã mặc cho tôi áo phần rỗi và choàng áo công chính cho tôi, như tân lang đầu đội triều thiên, như tân nương trang sức bằng ngọc bảo. Như đất đâm chồi, như vườn nảy lộc, Chúa cũng làm phát sinh công chính và lời ca tụng trước mặt muôn dân.

Đáp ca: 1 Sm 2, 1.4 – 5.6-7.8abcd (Đ.x.1a)

Đ. Tâm hồn con hỷ hoan vì Chúa, là Đấng cứu độ con.

Xướng. Tâm hồn con hoan hỷ vì Chúa, nhờ Chúa, con ngẩng đầu hiên ngang. Con mở miệng nhạo báng quân thù: Vâng, con vui sướng vì được Ngài cứu độ.

Xướng. Cung nỏ người hùng bị bẻ tan, kẻ yếu sức lại trở nên hùng dũng. Người no phải làm mướn kiếm ăn, còn kẻ đói được an nhàn thư thái. Người hiếm hoi thì sinh năm đẻ bảy, mẹ nhiều con lại ủ rũ héo tàn.

Xướng. Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên. Chúa bắt phải nghèo và cho giàu có, Người hạ xuống thấp, Người cũng nhắc lên cao.

Xướng. Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro, đặt ngồi chung với hàng quyền quý, tặng ngai vinh hiển làm sản nghiệp riêng.

Alleluia:  x. Lc 2, 19

Alleluia, alleluia! – Đức Trinh Nữ Maria hiển vinh đã ghi nhớ lời Chúa và suy niệm trong lòng. – Alleluia.

Phúc Âm:  Lc 2, 41-51

Mẹ Người ghi nhớ những việc đó trong lòng”

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Hằng năm cha mẹ Chúa Giêsu có thói quen lên Giêrusalem để mừng lễ Vượt qua. Lúc bấy giờ Chúa Giêsu lên mười hai tuổi, cha mẹ Người đã lên Giêrusalem, theo tục lệ mừng ngày lễ Vượt cha mẹ Người đã lên Giêrusalem, theo tục lệ mừng ngày lễ Vượt Qua. Và khi những ngày lễ đã hoàn tất, hai ông bà ra về, trẻ Giêsu đã ở lại Giêrusalem mà cha mẹ Người không hay biết. Tưởng rằng Người ở trong nhóm các khách đồng hành, hai ông bà đi được một ngày đàng, mới tìm kiếm Người trong nhóm bà con và những kẻ quen biết. Nhưng không gặp thấy Người, nên hai ông bà trở lại Giêrusalem để tìm Người. Sau ba ngày, hai ông bà gặp thấy Người trong đền thờ đang ngồi giữa các thầy tiến sĩ, nghe và hỏi các ông. Tất cả những ai nghe Người nói, đều ngạc nhiên trước sự hiểu biết và những câu Người đáp lại. Nhìn thấy Người, hai ông bà đã ngạc nhiên, và mẹ Người bảo Người rằng: “Con ơi, sao Con làm cho chúng ta như thế? Kìa cha Con và mẹ đây, đã đau khổ tìm Con”. Người thưa với hai ông bà rằng: “Mà tại sao cha mẹ tìm con? Cha mẹ không biết rằng con phải lo công việc của Cha con ư?” Nhưng hai ông bà không hiểu lời Người nói. Bấy giờ Người theo hai ông bà trở về Nadarét, và Người vâng phục hai ông bà. Maria mẹ Người ghi nhớ những việc đó trong lòng.

Đó là lời Chúa.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, nhân ngày lễ kính Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a, Thánh mẫu của Ðức Kitô, Con Chúa, chúng con dâng tiến Chúa lời cầu nguyện và lễ vật này. Xin Chúa thương chấp nhận, và đưa chúng con đến gần Chúa hơn nữa. Chúng con cầu xin…

Ca hiệp lễ

Đấng đã làm cho tôi những điều trọng đại, Người quyền năng, và danh Người là Thánh.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, Chúa vừa cho chúng con tham dự vào mầu nhiệm Thánh Thể, nhân ngày kính nhớ Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a, cúi xin Chúa nhận lời chúng con khẩn cầu cho chúng con được đầy tràn ân sủng và được thấm nhuần ơn cứu độ muôn đời. Chúng con cầu xin…

Suy niệm

Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria
Phêrô Dương Hải Văn, SDB

Trong các lễ nhớ dành riêng cho Mẹ Maria liên quan tới lễ Đức Mẹ Lộ Đức, có lễ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Kiểu nói ”trái tim vô nhiễm” mới có sau này, và trở thành thông dụng sau khi Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố tín lý Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội năm 1854. Trước đó có các kiểu nói thông dụng như ”trái tim rất thanh sạch”, hay ”trái tim rất vẹn tuyền”, hoặc ”trái tim rất thánh” Đức Mẹ Maria…

Việc tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ được dựa trên nền tảng Phúc Âm: “Maria ghi nhớ những điều này và suy niệm trong lòng” (Lc 2, 19), và “Còn Mẹ Ngài thì ghi nhớ những điều này trong lòng” (Lc 2, 51). Trong Cựu Ước, trái tim được xem là biểu tượng thẳm sâu trong tâm lòng con người, là trung tâm của mọi chọn lựa và cam kết. Còn đối với nhân loại thì đó là biểu tượng của tình yêu. Trong sách Đệ Nhị Luật ta đã nghe rằng: “Ngươi hãy yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết tâm lòng, hết sức lực và trí khôn ngươi.” (Đnl 6,5).  Trong Tin Mừng theo thánh Máccô thì khi các biệt phái chất vấn Đức Kitô về giới răn nào là trọng nhất, Ngài đã nhắc lại đoạn Kinh Thánh này để trả lời cho họ (Mc 12, 29-33).

Chính Trái Tim Mẹ đã đáp trả bằng tiếng “Xin vâng” với Thiên Chúa khi được sứ thần Gabrien truyền tin. Do sự ưng thuận vì tình yêu, Mẹ Maria trước hết đã cưu mang Đức Giêsu trong trái tim mình và rồi cũng cưu mang trong cung lòng của Mẹ.

Theo lịch sử, việc tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ được tìm thấy đầu tiên vào thế kỷ 12 với nhiều sử gia như Thánh Anselm (1109) và Thánh Bernard thành Clairvaux (1153) là thánh viết rất tài tình về việc tôn sùng thánh thiện này. Thánh Bernadine thành Siena (1380-1444) đã được gọi là Tiến Sĩ về lòng sùng kính Trái Tim Mẹ vì những trước tác về Trái Tim Mẹ. Ngài viết, “từ trái tim Mẹ, như lò lửa của Tình Yêu Rất Thánh, Đức Trinh Nữ Maria đã nói lên ngôn ngữ tuyệt vời nhất của một tình yêu mãnh liệt.” Thánh John Eudes (1601-1680) qua các bài viết của Ngài đã giúp khơi lại lòng sùng kính này. Đức Thánh Cha Lêô XIII và Piô X gọi ngài là “cha, thầy dạy và là tông đồ phụng vụ lòng sùng mến Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria”. Thánh John Eudes và những người theo ngài đã dành ngày 8 tháng 2 trong khoảng năm 1643 để kính nhớ Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ. Về sau, Đức Piô VII cho mở rộng ngày mừng kính này để các giáo xứ hoặc hội đoàn nào muốn tôn sùng thì cũng được phép.

Việc tôn sùng Trái Tim Mẹ Maria có một truyền thống đẹp đẽ hơn nữa qua tấm ảnh đeo của Thánh Catarina Laboure năm 1830 và việc hiện ra của Đức Mẹ tại Fatima từ ngày 13 tháng 5 đến 13 tháng 10 năm 1917. Mẹ đã hiện ra với 3 trẻ là Jacinta, Phanxicô và Luica tại Fatima, Bồ Đào Nha. Trong ngày 13 tháng 7, Mẹ đã cho các trẻ này biết rằng ”để cứu những người tôi lỗi, Thiên Chúa đã ước ao thiết lập việc sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ”. Toàn bộ lời nhắn nhủ của Mẹ là một lời cầu nguyện, thống hối và bằng những việc hy sinh, đền bù phạt tạ Thiên Chúa về những xúc phạm đến Ngài.

Vào năm 1942, kỷ niệm 25 năm biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima, Đức Thánh Cha Piô XII đã dâng thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ. Cũng vào năm ấy, ngài đã chọn mừng lễ này vào ngày 22 tháng 8, một tuần sau lễ Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời. Ngày 4 tháng 5 năm 1944, ngài loan báo mở rộng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm cho Giáo Hội hoàn vũ. Với những cải cách về phụng vụ trong Công Đồng Vatican II, lễ kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ được dời về một ngày ngay sau Lễ Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, chính là ngày  thứ bảy sau chúa nhật thứ hai sau Lễ Hiện Xuống.

Thiên Chúa đã chọn Mẹ Maria để cưu mang Đấng Cứu Thế, để cộng tác cho công trình cứu chuộc của Người. Công trình này xuất phát từ tình yêu của Thiên Chúa. Đức Maria đã cộng tác với Thiên Chúa để mang tình yêu của Người cho nhân loại. Chúa cũng mời gọi sự cộng tác của mỗi người chúng ta. Mỗi người đều có một vai trò và vị trí đặc biệt trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Điều Thiên Chúa cần nơi mỗi người chúng ta là noi gương Mẹ Maria, luôn sẵn sàng vâng phục thánh ý của Chúa.
 

Mt 5,33-37


dối trá là nô lệ ác thần
Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Đừng thề chi cả… Hễ ‘có’ thì nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’; thêm thắt điều gì là do ác quỷ”. (Mt 5,34.37)


Suy niệm: Trong đời sống xã hội, người ta thường đưa ra lời cam đoan, cam kết để bảo đảm cho những hình thức giao dịch khác nhau. Các đối tác trong các thương vụ làm ăn ký kết những hợp đồng, giao kèo. Nguyên thủ quốc gia có lời tuyên thệ nhậm chức. Hai người nam nữ có lời thề hứa khi kết hôn. Đến cả những người bán hàng rong cũng luôn miệng khẳng định món hàng của mình là tốt nhất. Những việc cam kết đó hiện thực được là nhờ dựa trên niềm tin. Ngược lại sẽ là đổ vỡ phũ phàng khi các bên cam kết lại không giữ chữ tín. Chúa Giê-su lên án mạnh mẽ sự dối trá, bội tín như thế, và gọi đó là hành vi thuộc về ma quỷ: “‘Có’ thì nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’; thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5,37).

Mời Bạn: Kẻ dối trá là tay sai của ác thần. Sự dối trá có thể giúp người ta đạt được tham vọng trước mắt, nhưng về lâu về dài, và chung cục, dối trá sẽ dẫn đến diệt vong. Một công việc dù có mục đích tốt đi nữa, nhưng nếu sử dụng thủ đoạn dối trá thì không thể là một hành vi tốt được. Ở giữa thế gian đầy dẫy gian dối lọc lừa này, mời bạn dám sống như con cái của Chúa, luôn trung thực từ lời nói đến việc làm, cho dù vì thế bạn phải chịu nhiều thiệt thòi, chế diễu

Sống Lời Chúa: Mỗi ngày bạn lặp lại với Chúa lời cam kết nói ‘không’ với tất cả những gì là gian dối.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, giữa một thế giới mà gian dối, lừa lọc thường được cho là khôn ngoan, lanh lợi, xin cho chúng con dám chấp nhận bị coi là điên dại trước mặt thế gian để trở nên khôn ngoan trong Nước Chúa. Amen.

BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
thứ bảy tuần 10 THƯỜNG NIÊN

Ca nhập lễ

Chúa là sự sáng, là Đấng cứu độ tôi, tôi sợ chi ai? Chúa là Đấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai? Khi những đứa ác xông vào để xả thịt tôi, bọn thù ghét tôi sẽ siêu té và ngã gục.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, Chúa là nguồn phát sinh mọi điều thiện hảo, xin đáp lời con cái nài van mà soi sáng cho biết những gì là chính đáng, và giúp chúng con đủ sức thi hành. Chúng con cầu xin…

Bài Ðọc I: (Năm I) 2Cor 5, 14-21

“Ðấng không hề biết tội lỗi, Thiên Chúa đã làm thành tội vì chúng ta”.

Bài trích thơ thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, lòng mến Ðức Kitô thôi thúc chúng tôi nghĩ rằng: nếu một người đã chết cho mọi người, tức là mọi người đã chết; và Ðức Kitô đã chết cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho mình.

Bởi thế, từ nay chúng tôi không còn biết ai theo huyết nhục nữa, cho dầu có một thời chúng tôi đã biết Ðức Kitô theo phương diện huyết nhục, thì bây giờ chúng tôi không biết Người như vậy nữa.

Ai ở trong Ðức Kitô là một thọ sinh mới: những gì cũ đã biến đi: này mọi sự đã được đổi mới.

Và mọi sự đều do Thiên Chúa là Ðấng giải hòa chúng ta với Người nhờ Ðức Kitô, và đã trao chức vụ giải hòa cho chúng tôi.

Chính Thiên Chúa ở trong Ðức Kitô đã giải hòa thế gian với Người, không còn qui trách tội lỗi cho họ nữa và đã đặt lời giải hòa trên môi miệng chúng tôi.

Vậy chúng tôi là sứ giả thay mặt Ðức Kitô, như là Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo vậy.

Nhân danh Ðức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa.

Ðấng không hề biết tội lỗi, Thiên Chúa đã làm thành tội vì chúng ta, để trong Ðức Kitô, chúng ta được trở thành sự công chính của Thiên Chúa.

Ðó là Lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 102, 1-2, 3-4, 9-10, 11-12

Ðáp: Chúa là Ðấng thương xót và nhân ái

Xướng: Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, toàn thể con người tôi, hãy chúc tụng thánh danh Chúa, toàn thể con người tôi, hãy chúc tụng thánh danh Người. Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và chớ khá bao giờ quên mọi ân huệ của Người. – Ðáp.

Xướng: Người đã tha thứ mọi điều sai lỗi, và chữa ngươi khỏi mọi tật nguyền. Người chuộc mạng ngươi khỏi chỗ vong thân, Người đội lên đầu ngươi mão từ bi, và ân sủng. – Ðáp.

Xướng: Người không chấp tranh triệt để, cũng không đời đời giữ thế căm hờn. Người không xử với chúng tôi như chúng tôi đắc tội, và không trả đũa theo điều oan trái chúng tôi. – Ðáp.

Xướng: Nhưng cũng như trời xanh cao vượt trên trái đất, Lòng nhân hậu Người còn siêu việt hơn thế trên kẻ kính sợ Người. Cũng như từ đông sang tây xa vời vợi, Người đã ném tội lỗi xa khỏi chúng tôi. – Ðáp.

Bài Ðọc I: (Năm II) 1 V 19, 19-21

“Êlisê chỗi dậy đi theo Êlia”.

Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.

Trong những ngày ấy, Êlia xuống núi tìm đến cùng Êlisê, con ông Saphat, đang cày với mười hai đôi bò; chính Êlisê là người dẫn đôi bò thứ mười hai. Êlia tiến đến gần ông và ném áo choàng mình trên ông. Êlisê bỏ đôi bò đó, chạy lại Êlia và thưa rằng: “Xin cho tôi về hôn cha mẹ tôi đã, rồi tôi sẽ theo Ngài”. Êlia nói với ông: “Cứ về rồi trở lại, vì ta đã làm gì ngươi đâu?” Êlisê rời Êlia, bắt đôi bò làm thịt, lấy cày làm củi, nấu thịt bò và đem cho dân chúng ăn. Ðoạn Êlisê chỗi dậy đi theo làm đồ đệ Êlia.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 15, 1-2a và 5. 7-8. 9-10

Ðáp: Lạy Chúa, Chúa là phần gia nghiệp của con (c. 5a).

Xướng: Xin bảo toàn con, lạy Chúa, vì con tìm nương tựa Chúa. Con thưa cùng Chúa: Ngài là Chúa tể con; Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con.

Xướng: Con chúc tụng Chúa vì đã ban cho con lời khuyên bảo, đó là điều lòng con tự nhủ, cả những lúc đêm khuya. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng.

Xướng: Bởi thế lòng con vui mừng và linh hồn con hoan hỉ, ngay cả đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa chẳng bỏ rơi linh hồn con trong âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài thấy điều hư nát.

Alleluia: Lc 19, 38

Alleluia, alleluia! – Chúc tụng Ðức Vua, Ðấng nhân danh Chúa mà đến; bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. – Alleluia.

(Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! Lạy Thiên Chúa, xin hướng lòng con nghiêng về thánh ý, và thương ban cho con luật pháp Ngài. Alleluia.)

Phúc Âm: Mt 5, 33-37

“Thầy bảo các con: đừng thề chi cả”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con lại còn nghe dạy người xưa rằng: “Ðừng bội thề, nhưng hãy giữ lời ngươi đã thề với Chúa”. Phần Thầy, Thầy bảo các con: Ðừng thề chi cả, đừng lấy trời mà thề, vì là ngai của Thiên Chúa; đừng lấy đất mà thề, vì là bệ đặt chân của Người; đừng lấy Giêrusalem mà thề, vì là thành của Vua cao cả; cũng đừng chỉ đầu mà thề, vì con không thể làm cho một sợi tóc ra trắng hoặc ra đen được. Nhưng lời các con phải: có thì nói có, không thì nói không; nói thêm thắt là do sự dữ mà ra”.

Ðó là lời Chúa.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa chúng con dâng tiến lễ vật này, để tỏ lòng thần phục suy tôn; cúi xin Chúa vui lòng chấp nhận và cho chúng con được thêm lòng mến Chúa. Chúng con cầu xin…

Ca hiệp lễ

Chúa là sơn động chỗ tôi nương mình, là Đấng cứu độ và là sức hộ phù tôi.

Hoặc đọc:

Thiên Chúa là tình yêu, và ai ở trong tình yêu, thì ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong người ấy.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, xin dùng ơn thiêng của bí tích này để chữa lành và bổ dưỡng chúng con, cho chúng con thoát khỏi mọi khuynh hướng xấu và bước đi vững vàng trên con đường thánh thiện. Chúng con cầu xin. . . . .

Suy niệm

SỐNG THẬT
Lm. Giuse Vũ Công Viện

Hôm nay Chúa Giê-su dạy về sự trung thực trong lời nói. Điều cốt yếu của lời nói là sự trung thực: “Có thì nói có, không thì nói không, nói thêm thắt là do sự dữ mà ra”. Và một khi đã trung thực trong lời nói thì không cần thề nữa.

Trong một xã hội dối trá lừa đảo đã trở thành lẽ thường, thì sự trung thực quả là quí giá. Phải chăng nhiều người Ki-tô hữu đã cho rằng trong hoàn cảnh hiện nay, giới răn thứ tám không còn ràng buộc nữa? Người người dối trá, tại sao tôi không dối trá, miễn là tôi không vi phạm đến quyền lợi người khác là được.

Chúa Giê-su không chấp nhận bất cứ luật trừ nào trong giới răn này: “Có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt điều gì là do ma quỉ mà ra”, nghĩa là không được nói hai ý, úp mở hai lòng, ương ương dở dở. Có những câu nói, có những sự thật nói ra sợ mất lòng, nên có người tìm cách để rồi bớt xén, thêm hoa lá cành, thành thử cuối cùng cũng ra nói dối. Lỗi về sự trung thực không chỉ là nói dối, vu khống, hứa mà không làm, nói đúng mà lại không sống đúng… mà còn là nói lệch đi một chút: thêm bớt một chút sự thật. Hãy nhớ trong vườn địa đàng, ma quỉ cám dỗ ông bà Adam – Eva bằng một sự thật được sửa đi một chút.

Nền tảng của giới răn này chính là phẩm giá con người. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là Đấng chân thật. Nói dối ngược hẳn lại với bản tính Thiên Chúa là Đấng chân thật vô cùng. Người tôn trọng phẩm giá của mình đương nhiên cũng là người tôn trọng lời nói của mình, đó là đòi hỏi của bất cứ nền tảng luân lý nào.

Đón nhận chân lý mạc khải của Thiên Chúa về con người, người Ki-tô hữu phải ý thức hơn ai hết về phẩm giá cao trọng của mình. Phẩm giá ấy được thể hiện hay không là tuỳ thuộc ở mức độ trung thực của họ. Sự trung thực không chỉ ở lời nói, nhưng bản sắc của người Ki-tô hữu có được thể hiện hay không là tuỳ thuộc ở suốt cuộc sống của họ. Họ có sống đúng với những lời chân thực họ đã rao giảng hay không. Niềm tin của người Ki-tô hữu có khả tín hay không là tuỳ họ có can đảm để lội ngược dòng giữa một xã hội mà dối trá đã trở thành luật sống hay không.

Chúa Giê-su đã sống đến cùng những lời rao giảng của Ngài. Dù cái chết cũng không khóa được những lời sự thật của Ngài và cái chết trên thập giá của Ngài cuối cùng cũng trở thành lời. Biết bao người đang chờ được nghe những lời chân thật của các Ki-tô hữu, không chỉ những lời thốt ra từ miệng, mà còn những lời từ một cuộc sống ngay thẳng, thanh liêm.

Nguyện xin Chúa gìn giữ và ban cho chúng ta ơn can đảm để làm chứng cho lời chân lý của Ngài bằng chính cuộc sống chân thực của chúng ta.

 

KHÔNG ĐƯỢC THỀ! (Mt 5, 33-37)
Giuse Vinhsơn Ngọc Biển SSP

Có những lần chúng ta đã nghe thấy những câu thề thốt đáng sợ như: “Tôi thề có đất trời chứng dám, sự việc xảy ra đúng như vậy, nếu không thì cho tôi bị chết bất đắc kỳ tử”. Như vậy, theo quan niệm của con người, lời thề thông thường là nối liền với sự tự rủa bản thân mình để chứng thực điều quả quyết. Khi đã thề, đòi buộc người thề không được bội ước.

Tuy nhiên, hôm nay, Đức Giê-su lại dạy các môn đệ rằng: “Đừng thề chi cả […]. Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ”.

Thực ra, thề có độc địa đến đâu, thì lời thề đó cũng khó có thể thành hiện thực. Như một lời nhắc nhở, Đức Giê-su cho biết, những lời thề đó là những điều phạm thánh, nếu cố tình vi phạm, không ăn năn hối cải sẽ bị Chúa phán xét nặng trong ngày diện kiến với Chúa.

Trên thực tế, con người ta có nhiều điều bất hảo. Thử hỏi có ai làm cho tóc hóa đen, hay kéo dài tuổi thọ của mình trên trần gian? Nếu điều đó cũng không làm được, thì nói chi đến những chuyện động địa như trong lời thề!

Hôm nay, Lời Chúa dạy cho chúng ta bài học về sự chân thật. “Hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ”.

Chúng ta không được phép thêm bớt để rồi làm cho người khác bất hạnh. Hãy sống thật với lòng mình thì sẽ được Chúa chúc phúc. Đừng sống kiểu: “Khẩu Phật, tâm xà”; hay: “Lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo”.

Lạy Chúa Giê-su, xin ban Chúa Thánh Thần là Thần Chân Lý đến với mỗi người chúng con, để chúng con biết sống ngay thẳng, công tâm, hầu xứng đáng là con cái Chúa. Amen.


NGHIÊNG VỀ THÁNH Ý CHÚA
(THỨ BẢY TUẦN 10 TN NĂM CHẴN)
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Bảy Tuần 10 Thường Niên, năm Chẵn này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa là nguồn phát sinh mọi điều thiện hảo, xin đáp lời con cái nài van, mà soi dẫn cho chúng ta biết những gì là chính đáng, và giúp chúng ta đủ sức thi hành.

Chúa là nguồn phát sinh mọi điều thiện hảo, vì thế, chúng ta phải luôn quy hướng về Chúa, và chỉ phụng sự một mình Người mà thôi, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, sách Giôsuê cho thấy: Thiên Chúa không ngừng đòi chúng ta lựa chọn giữa sự lành và sự dữ. Mỗi người trong chúng ta phải xác nhận lại cho chính mình giao ước giữa Thiên Chúa với Dân của Người, không phải một lần thôi, nhưng là mỗi khoảnh khắc trong suốt cả cuộc đời. Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác: Chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, và chúng tôi sẽ nghe lời Người.

Chúa là nguồn phát sinh mọi điều thiện hảo, vì thế, chúng ta phải đàn hát, tán tụng Người, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Amrôxiô nói: Vua Đavít đã nói rất hay rằng: Hãy ca ngợi Chúa đi! Đàn hát mừng Thiên Chúa chúng ta, thú vị dường nào! Được tán tụng Người, thỏa tình biết mấy! Đúng thế, Thánh Vịnh là lời chúc tụng của dân, là lời ngợi khen Thiên Chúa, là tiếng vỗ tay của muôn loài, là lời lẽ của vũ trụ, là tiếng nói của Hội Thánh, là lời tuyên tín vang lừng, là lòng sùng mộ đầy tràn và đích thực, là niềm hoan lạc của con người tự do, là tiếng reo vui mừng, và là âm vang của niềm hoan hỷ.

Chúa là nguồn phát sinh mọi điều thiện hảo, vì thế, chúng ta phải chọn Chúa là ưu tiên số một, là gia nghiệp đời đời của chúng ta, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, sách các Vua quyển I tường thuật lại: Ông Êlisa bắt cặp bò giết làm lễ tế, lấy cày làm củi nấu thịt đãi người nhà. Rồi ông đứng dậy, đi theo ông Êlia và phục vụ ông. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 15, vịnh gia đã cũng cùng chung tâm tình này khi nói: Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng. Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài, con đang ẩn náu. Con thưa cùng Chúa: Ngài là Chúa con thờ, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Lạy Thiên Chúa, xin hướng lòng con nghiêng về thánh ý, và thương ban cho con luật pháp Ngài.  Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Đừng thề chi cả, hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không thì phải nói ‘không’; thêm thắt điều gì là do ác quỷ. Thánh ý Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Đức Giêsu khi đến trần gian, Người cũng tự nhận: Thánh ý của Chúa Cha là lương thực nuôi sống Người. Các bánh xe của đoàn tàu, hằng ngày, ăn hai thanh sắt của đường ray: các bánh xe phải ăn khớp, và phải lăn trên đường ray, thì đoàn tàu sẽ được sống, và sẽ cập bến an toàn. Xatan là cha của sự dối trá, luôn muốn làm cho chúng ta sai lạc; Xatan là nguồn phát sinh mọi điều bất hảo, nghe theo lời xúi giục của Xatan, chắc chắn, chúng ta sẽ bị lầm đường lạc lối và đưa tới tử lộ. Ngược lại, sống theo đường lối, huấn lệnh của Chúa, chúng ta sẽ tiến bước trên đường ngay nẻo chính, dẫn đến sự sống muôn đời. Ước gì chúng ta luôn biết nghiêng về thánh ý Chúa, tỉnh thức trước những lời mời gọi phù phiếm của Xatan, để thẳng bước tiến về với Thiên Chúa, là Đấng tuyệt đối chân thật: phát sinh mọi điều thiện hảo. Ước gì được như thế!

TRUNG THỰC
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đừng thề chi cả!”.

“Một đứa trẻ sống trong sự chỉ trích, nó sẽ học cách lên án. Một đứa trẻ sống trong sự thù địch, nó sẽ học cách đánh nhau. Một đứa trẻ sống trong sự khích lệ, nó sẽ học được sự tự tin. Một đứa trẻ sống trong tình yêu, nó sẽ học được rằng, thế giới là một nơi tuyệt vời để sống. Một đứa trẻ sống với sự trung thực, nó sẽ học được sự thật là gì!” - Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

“Một đứa trẻ sống với sự trung thực, nó sẽ học được sự thật là gì!”. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói đến sự ‘trung thực’; Ngài nói với các môn đệ, “Thầy bảo cho các con biết: đừng thề chi cả!”.

Ở đây, Chúa Giêsu không nói đến những hình thức tuyên khấn trước Thiên Chúa và Giáo Hội. Thay vào đó, Ngài nói đến một thói quen mà một số người thường làm; theo đó, họ thường thề thốt nhân danh Chúa về tính ‘trung thực’ của những gì họ nói. Đó là những người cần một thứ gì đó trang trọng, thiêng liêng; và như thế, bất cẩn biến nó thành một thứ bình thường. Thực ra, không cần “thề với Chúa” về mọi điều mình nói.

Trước hết, nếu một người cảm thấy cần phải thường xuyên kêu cầu danh Chúa để thuyết phục người khác về tính ‘trung thực’ của họ, thì rất có thể họ đang đấu tranh với sự thiếu trung thực. Việc thề thốt thường xuyên dường như giả định trước một xu hướng xấu - nói dối! Vì lý do đó, sẽ không lý tưởng khi thực hiện các tương tác hàng ngày của một người với ‘tiền giả định’ - xu hướng nói dối - này. Với tư cách là Kitô hữu, chúng ta phải cố đạt được khuynh hướng căn bản về sự ‘trung thực’, “‘Có’ thì phải nói ‘có’, ‘không thì phải nói ‘không’; thêm thắt điều gì là do ác quỷ!”. Nói cách khác, hãy nỗ lực để trở thành một người ‘trung thực’ và chính trực; chân thành trong mọi lời nói việc làm và đừng bắt đầu với giả định là không trung thực. Hãy trung thực và chân thành, thế là đủ!

Hơn nữa, nếu một người suốt ngày thề thốt trung thực nhân danh Chúa, điều này sẽ làm giảm đi tính trang trọng của một số ít lần khi đây là một thực hành tốt và thánh thiện. Lời thề của các đôi bạn trong Bí tích Hôn Phối, hay của các linh mục ngày thụ phong là độc nhất và trang trọng. Việc công khai đổi mới đức tin của chúng ta trong Giáo Hội; một người bắt đầu đảm nhận trách nhiệm của một cơ quan công quyền nào đó, hoặc bất kỳ cơ hội tuyên thệ trang trọng nào khác phải được coi là một dịp đặc biệt. Vì vậy, những cam kết hàng ngày của chúng ta phải đơn giản là kết quả của sự liêm chính với tư cách là con cái Chúa.

Kính thưa Anh Chị em,

“Đừng thề chi cả!”; “Sống trung thực, bạn sẽ học được sự thật là gì!”. Hôm nay, hãy suy gẫm về cách tiếp cận hàng ngày của bạn đối với sự ‘trung thực’ và chân thành. Ngày sống của bạn có mục tiêu là sống trong sự thật, nói sự thật và tìm kiếm sự thật không? Bạn có thành thật với người khác, tìm kiếm sự giao tiếp tốt và rõ ràng với họ không? Hãy suy gẫm những câu hỏi này và biết rằng, sự ‘liêm chính nội tâm’ đòi hỏi những nhân đức trung thực và chân thành này. Hãy tìm kiếm sự chính trực đó và những người khác sẽ hưởng lợi khi họ ngày càng tin tưởng bạn hơn!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết xấu hổ và tự thẹn mỗi khi thiếu ‘liêm chính nội tâm’. Như một em bé, cho con luôn sống hồn nhiên, ‘trung thực!’”, Amen.


 

BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
Thánh Antôn Pađôva, linh mục, tiến sĩ Hội Thánh

Ca nhập lễ

Những người thông thái sẽ sáng chói như ánh sáng vòm trời, và những kẻ dạy đàng công chính cho nhiều người, sẽ nên như các vì tinh tú tồn tại muôn ngàn đời.

Hoặc đọc:

Các dân tộc tường thuật sự khôn ngoan của các thánh, và Hội Thánh loan truyền lời ngợi khen các ngài: danh tánh các ngài tồn tại đến muôn đời.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã ban cho dân Chúa một nhà giảng thuyết lừng danh và cũng là người cứu giúp những ai nghèo khổ, đó là thánh linh mục An-tôn . Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu, cho chúng con biết trung thành tuân giữ giáo huấn của Ðức Kitô để được nâng đỡ trong những lúc ngặt nghèo. Chúng con cầu xin…

Bài đọc

Phụng vụ Lời Chúa – (theo ngày trong tuần)

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, xin dủ thương chấp nhận của lễ chúng con hoan hỷ dâng lên Chúa nhân ngày mừng kính thánh linh mục An-tôn trung thành với giáo huấn của thánh nhân, chúng con muốn hiến trọn thân mình, cùng với của lễ đang dâng tiến Chúa đây. Chúng con cầu xin…

Ca hiệp lễ

Này là đầy tớ trung thành và khôn ngoan, mà Chúa đã đặt lên coi sóc gia nhân mình, để đúng giờ phân phát lúa thóc cho họ.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, Chúa đã nuôi dưỡng chúng con bằng bánh trường sinh là Ðức Kitô. Xin cũng nhờ Ðức Kitô là thầy mà giáo huấn chúng con. Nhờ thế, chúng con sẽ noi gương thánh An-tôn để lại mà học biết chân lý của Chúa và đem ra thực hành, bằng cuộc sống đượm tình bác ái yêu thương. Chúng con cầu xin…

Suy niệm

THÁNH ANTÔN NGƯỜI GIẢNG THUYẾT LỪNG DANH
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Muôn dân tường thuật sự khôn ngoan của các thánh, và Giáo Hội loan truyền lời ca tụng các Ngài: tên tuổi các Ngài sẽ muôn đời tồn tại”( Hc 44, 14-15 ).

Bài đọc 1: Sách Khôn ngoan, ca ngợi Đức Khôn Ngoan trổi vượt trên mọi trân châu, bảo ngọc trong đời. Khôn ngoan là tiếp nhận những lời dạy dỗ bảo ban và trở nên bạn hữu của Thiên Chúa.

Bài đọc 2: Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Êphêsô, mời gọi chúng ta giữa nhiều sự khôn ngoan phù phiếm của trần thế, hãy vươn tới Đức Kitô vì Người chính là sự khôn ngoan đích thực.

Qua bài Phúc âm (Mc 16, 15-20), Chúa Giêsu truyền lệnh cho các môn đệ hãy loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo, nghĩa là phải quảng đại và mạnh dạn chia sẻ kho tàng khôn ngoan mà mình đã đó.

Thánh Antôn là vị thánh nổi tiếng ở Ý, thường được gọi là thánh Antôn Padova, vì ngài qua đời và thi hài được tôn kính ở Padova nước Ý. Tuy nhiên thánh Antôn lại là một người Bồ Ðào Nha, sinh tại Lisbon, với tên gọi là Fernando. Mặc dù đã chọn dòng Kinh sĩ thánh Augustinô, nhưng vào năm 1220, thánh Antôn đã chọn theo bước thánh Phanxicô Assisi và lấy tên là Antôn. Ngày15 tháng 08 năm 1195 là ngày tháng năm sinh của Ngài. Thánh nhân qua đời 13 tháng 06 năm 1231. Ngày 30 tháng 05 năm 1232, Ngài được tuyên thánh, theo ý muốn của Ðức Giáo hoàng Gregorio IX. Ngày 16-01-1946, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn vinh thánh Antôn là “Tiến Sĩ Hội Thánh” với danh hiệu “Tiến Sĩ Tin Mừng.” Điều đó đã nói lên một sự thật trong cuộc đời rao giảng của ngài: “Thánh Antôn biết cách nói Lời Tin Mừng cho mọi người”. Ngài là một tấm gương nổi bật về sự say mê Lời và nhiệt thành loan báo Lời Tin Mừng.  

Qua đời mới có 36 tuổi, nhưng Ngài đã nổi tiếng về nhân đức, phép lạ và những tư tưởng của Ngài. Cuộc đời thánh nhân được gắn kết với Lời Tin Mừng, nhờ đó ngài đã khám phá ra nguồn mạch Khôn ngoan. Để diễn tả mối tương quan mật thiết giữa Lời Chúa và đời sống của ngài, các hoạ sĩ thường vẽ thánh Antôn đứng thẳng, tay cầm quyển Kinh Thánh đang mở và Chúa Giêsu Hài Đồng đứng trên trang Kinh thánh. Thật vậy, khi còn là tập sinh Dòng Kinh Sĩ, Antôn đã say mê học hỏi và suy gẫm Lời Chúa, và Lời Chúa trở thành lương thực và niềm hoan lạc cho ngài. Khi đi hoạt động, ngài quan niệm rao giảng là giải thích Lời Chúa. Chúng ta có thể nói rằng ngài đã diễn giải Lời Chúa cách sâu sắc mà dễ hiểu, ấy là vì ngài đã thấm nhuần Lời Chúa một cách sâu xa. Trong nghi lễ phong thánh cho Antôn vào năm 1232, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IX đã xác nhận điều đó bằng cách tôn vinh: ngài là “Hòm Bia Giao Ước” (Arca Testamenti), ngài là “Kho Tàng Lời Chúa” (Repository of Holy Scripture).

Mặc dầu Ngài là người Bồ Đào Nha nhưng lại rất được người Việt Nam yêu mến. Vấn đề đặt ra là tại sao Thánh Antôn lại thu hút mọi người như vậy? Có người cho rằng vì Ngài hay làm phép lạ (nói đúng hơn, nhờ lời chuyển cầu của Ngài nên Chúa làm nhiều phép lạ. Đùng, nhưng vì sao Ngại lại làm phép lạ? Kinh Ông Thánh Antôn cho chúng ta biết: “Để thông ơn phúc cho cả và thiên hạ, xưa ở đời này đầy lửa kính mến Chúa, hằng ước ao cho danh Cha cả sáng cùng ái mộ phần rỗi nhân loại, nên đã làm phép lạ cứu giúp muôn vàn người khỏi tai nạn phần hồn phần xác”.

Như vậy, lý do Thánh An-tôn hay làm phép lạ đã rõ: thứ nhất, để làm vinh danh Chúa, thứ hai, để cứu giúp con người phần hồn phần xác. Ngài không những cứu giúp những việc lớn lao, mà Ngài con cứu giúp cả những việc nhỏ nhặt hằng ngày: “Hễ ai túng rỗi chạy đến cầu xin Người, bất luận việc lớn bé thế nào, liền được ơn Người cứu giúp”. (Lời kinh khẳng định)

Thông thường các thánh hay làm phép lạ khi đã qua đời, còn Thánh Antôn không những làm phép lạ ngay khi còn sống. chuyện kể, khi còn niên thiếu: “Một ngày mùa hè, cha Ngài sai Ngài canh giữ ruộng lúa mì khỏi chim ăn. Bỗng Antôn nhớ lại đã đến giờ đọc kinh tại nhà thờ mà Ngài không bao giờ bỏ. Ngài liền gọi bầy chim sẻ lại và nhốt vào một cái lều lộ thiên, cấm không con nào được bay ra phá lúa. Rồi Ngài an tâm đi nhà thờ. Lúc trở về Ngài thấy bầy chim sẻ vẫn ở trong lều”.

Lần khác, Antôn đang thinh lặng cầu nguyện ở nhà thờ chìm trong bóng tối. Ngài cảm thấy bị cám dỗ mãnh liệt. Không chần chừ, Ngài lấy ngón tay vẽ Dấu Thánh giá trên bậc bàn thờ, thánh giá in sâu vào đá hoa. Thấy dấu này, quỷ liền trốn chạy, cám dỗ tiêu tan.

Trong thờ gian giảng thuyết, Ngài cũng làm rất nhiều phép lạ như: Phép lạ cá nghe giảng, ngựa đói chê cỏ để thờ lạy Mình Thánh Chúa; uống thuốc độc mà không hề hấn gì, ly vỡ lại lành.

Khi Ngài qua đời, tự nhiên các đoàn trẻ la hét: “cha chúng tôi đã qua đời”, mặc dù họ không biết Thánh Antôn chết.

Trong cuốn Assidua, đã thuật lại nhiều phép lạ của thánh Antôn, nhất là ngay khi Ngài mới qua đời, sách viết: “Chỉ chạm tới mộ Ngài, bệnh nhân liền vui sướng cảm thấy mọi bệnh tật tan biến. những ai không tới gần mộ được, thì lúc trở về ngang nhà nguyện cũng được chữa lành bệnh. Nơi đó, nhiều người điếc được nghe, mù được thấy, què được nhảy nhót như nai con; cũng nơi đó lưỡi nhiều người câm được mở ra, cất tiếng ca ngợi Chúa. Chi thể tê liệt được phục hồi, đi lại bình thường, những chứng bệnh như còng lưng, thống phong, sốt rét cũng như tất cả các bệnh khác đều được chữa lành cách lạ lùng. Tóm lại, từ nhiều nơi trên trần gian đến đây, người ta đều xin được như ý mong ước ”.

Đặc biệt trong ngày lễ phong thánh, không ai biết chuyện gì đã xảy ra, thế mà dân chúng tuôn ra đường phố vừa ca hát, vừa nhảy múa, chuông trong thị trấn bắt đầu rung vang, dầu không ai động tới, và tất cả mọi người đều hoan hỷ vui sướng như ngày lễ hội. Ít hôm sau, một vài anh em từ Ý tới loan tin chính là hôm đó Antôn được phong thánh.

Kể từ khi thánh nhân qua đời cho tới ngày phong thánh có 47 phép lạ được Giáo hội công nhận. Từ đó tới nay, thánh Antôn vẫn làm phép lạ đó đây trên thế giới. Có người được khỏi bệnh, có người tìm được của cải đã mất, có người thi cử đỗ đạt, nhiều người được ơn ăn năn trở lại qua Bí tích Giao hòa… chứng tỏ Chúa vẫn nhận lời Thánh Antôn. Nhưng cũng có người phàn nàn là xin mãi mà chẳng được?

Thánh Giacôbê trả lời rằng: “Anh em xin mà không được là vì anh em xin với tà ý” (Ga 4, 2-3). Còn thánh Augustinô thì nói: “xin không được là do tâm hồn không tốt; hoặc do cách cầu nguyện xấu; cũng có thể là do xin điều xấu nên không được Chúa nhận lời. Vì thế, nhiều kh chúng ta cũng phải xem xét nội dung và cách cầu nguyện của chúng ta”.

Mừng lễ thánh Antôn hôm nay, chúng ta không chỉ nhờ Ngài xin ơn, mà còn phải học nhân đức của Ngài như khiêm nhường, thăng tiến trên đường nhân đức; siêng năng đọc, suy gẫm và truyền đạt Lời Chúa; mến Chúa và yêu người. Trong lời nguyện nhập lễ hôm nay chúng ta biết: Ngài không những là nhà giảng thuyết lừng danh mà còn là người cứu giúp những ai nghèo khổ.

Sống trong một xã hội đầy dẫy những bất công như hôm nay, chúng ta cầu xin Chúa nhờ lời chuyển cầu của thánh Antôn làm cho những Antôn của thời đại, để đem yêu thương xóa tan bất công, nghèo khó, yêu người không chỉ bằng lời nói mà còn những việc làm cụ thể, yêu người không chỉ yêu phần xác mà còn yêu cả phần hồn nữa, hầu nhờ đó xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Amen.

 

Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

Thánh Antôn được mừng vào ngày kỷ niệm qua đời tại Padoua 13 tháng 6 năm 1231. Ngài được Đức Giáo Hoàng Grégoire IX phong thánh năm 1232 và được Đức Piô XII phong “tiến sĩ của Tin Mừng” năm 1946.

Antôn sinh tại Lisbonne, ở Bồ Đào Nha, khoảng 1195 và nhận tên thánh rửa tội là Fernando. Năm 1210, lúc còn rất trẻ, ngài đã vào hội kinh sĩ triều của Dòng thánh Augustin tại Lisbonne, trước khi vào Đan viện thánh Giá ở Coimbra. Năm 1220, sau khi hâm mộ lý tưởng của thánh Phanxicô và mong ước được phúc tử đạo tại Đất thánh, ngài xin Dòng Phan-xi-cô tiếp nhận mình và mang tên gọi là thầy Antôn. Sau khi được sai đi truyền giáo cho dân tộc Maures, ngài ngã bệnh và quyết định trở về Bồ-Đào-Nha. Nhưng bão tố đã đẩy người đến đảo Sicile.

Năm 1221, Thầy Antôn tham dự tổng công hội Nuttes và gặp thánh Phanxicô Assise. Phanxicô nói với ngài: “Tôi thích thầy dạy môn thần học thánh cho các anh em”. Khi nhận thấy ngài có nhiều biệt tài, các Bề trên đã phái ngài sang miền bắc nước Ý rao giảng chống lạc giáo Cathare chủ trương thanh tịnh quá khích, và sang miền nam nước Pháp để chống bè rối Albigeois. Ngài tham dự Công đồng Montpellier; sau đó đến Toulouse và Puy-en-Velay. Mùa thu năm 1225, thầy Antôn ở Bourges, nơi đây đã diễn ra phép lạ con la không ăn lúa kiều mạch để quỳ lạy Thánh Thể. Năm sau, người dự công nghị Arles và được bổ nhiệm coi sóc các anh em hèn mọn (“menudets”) ở Limousin. Từ tu viện Brive-la-gaillarde do ngài thành lập, ngài hoạt động ra khắp vùng. Chính tại Châteauneuf-la-Forêt đã diễn ra phép lạ nổi tiếng của thánh Antôn bồng Chúa Hài Nhi trên tay.

Năm 1227, khi đến Ý vì được bổ nhiệm làm Giám tỉnh Romagne, ngài qua Rôma và thuyết giảng trước sự hiện diện của Đức Giáo Hoàng Grégoire IX. Tại Rimini, trước sự chống đối của những kẻ theo lạc giáo, Antôn bỏ đi, rao giảng cho loài cá. Ngài hô lớn: “Hỡi loài cá biển và sông ngòi, bởi vì con người không muốn nghe lời Chúa, thì này đây tôi loan báo lời Chúa cho các bạn !” Sau cùng, đến Padoua và sống tại tu viện Đức Mẹ Maria. Từ đấy, vị thánh thành Padoua lâm bệnh, mắc chứng thủy thũng. Nhưng theo lời yêu cầu của Đức Hồng y Raynaldo Conti, ngài đọc cho các tu sĩ trong Dòng chép các Bài giảng ngày chúa nhật và các Bài giảng tôn vinh các thánh.

Thứ sáu ngày 13 tháng 6 năm 1231, thầy Antôn thốt lời cuối cùng: “Video Dominum meum” (Tôi thấy Chúa) và qua đời, hưởng thọ khoảng 36 tuổi. Thi hài của người được tôn kính tại Pa-đô-va, trong Vương Cung thánh đường nổi tiếng thánh Antôn.

Người ta cầu khẩn Antôn Padoua để được tìm thấy các đồ vật bị lạc mất. Các phép lạ do lời ngài cầu thay nguyện giúp rất nhiều. Các phép lạ nổi tiếng nhất được minh hoạ trên nhiều ảnh tượng: các bích họa, các phù điêu trên tường của Titien ở Padoua, các tác phẩm Perugin, của Corrège, Murillo, Donatello, Van Dyck… thánh Antôn được minh hoạ lần lượt bằng hình ảnh ngài cầm quyển sách, một ngọn lửa, một hoa huệ tươi nở, bồng Hài Nhi Giêsu, hay đang rao giảng cho các đàn cá…

Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện riêng ca tụng Antôn Padoua là “vị rao giảng Tin Mừng vĩ đại” và là “đấng bênh vực kẻ nghèo hèn”. Đức Giáo Hoàng Grégoire IX nhận thấy trong lời giảng dạy của thánh nhân một sự khôn ngoan sâu sắc và nhất là lòng mến Chúa và các linh hồn thật lớn lao, nên ngài đã gọi người là “Khám Giao Ước”. Cũng vậy, Đức Piô XII đã phong ngài tước hiệu “tiến sĩ của Tin Mừng”. Vì được tràn đầy Chúa Thánh Thần và nhờ các biệt tài thuyết giảng và tranh luận, nên ngài cũng được gọi là “tai hoạ cho kẻ lạc giáo” (hay là chiếc búa giáng trên đầu kẻ lạc giáo).

Khi trích dẫn lời thánh Grégoire, Antôn tuyên bố: “Qui luật cho nhà giảng thuyết là phải thực hành điều mình rao giảng”. Rồi ngài nói tiếp: “Ai đầy thánh thiện thì nói được nhiều thứ tiếng. Nhiều thứ tiếng ở đây có ý hiểu là những lời chứng về Đức Kitô như khiêm nhường, nghèo khó, kiên nhẫn và tuân phục… Vậy chúng ta hãy nói tùy theo khả năng Thánh Thần đã ban cho … đồng thời để chúng ta được đầy tràn tinh thần ăn năn sám hối, được đốt cháy bởi lưỡi lửa của Thánh Thần mà tuyên xưng đức tin… (Bài đọc – Kinh sách). Một tác giả xưa kể: “Khi thầy nhân lành ra đi giảng thuyết, mọi công việc đều phải ngưng… Người ta đi khắp thành phố và đồng quê… Lúc ấy, họ tha thứ các xúc phạm của nhau, kẻ trộm cắp trả lại những gì họ đã cướp lấy, kẻ tội nhân sám hối ăn năn.” Le Poverello nói rằng thầy Antôn đã được lý tưởng khó nghèo của Phanxicô Assise chinh phục; ngài đã chọn lối sống khiêm hạ và khó nghèo. Sau khi trở lại Ý vào năm 1227, ngài công kích dữ dội những kẻ cho vay nặng lãi, bóc lột người nghèo. Ngài thẳng thắn bênh vực người nghèo, đồng thời làm cho mọi người tôn trọng các lề luật để che chở họ. Ngài cũng công kích thái độ không đạo đức của một số giáo sĩ: “Nào ai có thể bẻ gãy xiềng xích phú quí, lạc thú, danh vọng đang cầm hãm các giáo sĩ và tu sĩ xấu ? …”

Hướng đến một mục đích duy nhất: cứu rỗi các tâm hồn”: đó là mục đích mà thầy Antôn đã tự đề ra cho mình. Ngài nhắm đạt đến mục tiêu đó khi hướng tâm hồn mọi người nhớ đến lòng khoan dung của Thiên Chúa. Ngài giảng rằng: “Hỡi tội nhân đáng thương, tại sao lại tuyệt vọng về sự cứu rỗi của mình, vì vạn sự ở trần thế đều nói lên lòng bao dung và yêu thương của Chúa ? Hãy nhìn lên hai vị trạng sư: Một người Mẹ (Đức Maria) và một Đấng Cứu thế ! Không, không, với hai người trung gian như thế, lòng bao dung của Thiên Chúa sẽ không xua đuổi ngươi đâu.

Enzo Lodi

TRUNG THÀNH TUÂN GIỮ GIÁO HUẤN CỦA ĐỨC KITÔ
(THÁNH ANTÔN PAĐÔVA 13/06)
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Thánh Antôn Pađôva hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã ban cho Dân Chúa một nhà giảng thuyết lừng danh, và cũng là người cứu giúp những ai nghèo khổ, đó là thánh linh mục Antôn. Xin nhậm lời thánh nhân chuyển cầu, mà cho chúng ta biết trung thành tuân giữ giáo huấn của Đức Kitô, để được Chúa nâng đỡ trong những lúc ngặt nghèo.

Chào đời khoảng cuối Thế Kỷ XII, tại Lítbon, Bồ Đào Nha, nhập hội kinh sĩ thánh Âutinh, nhưng sau khi làm linh mục được ít lâu, thánh Antôn hâm mộ lý tưởng sống Tin Mừng của thánh Phanxicô. Người đã đến Átxidi, sống bên cạnh thánh Phanxicô (năm 1221). Với tài năng giảng thuyết ngoại thường, người được phái qua Pháp là nơi các giáo thuyết của phái Catha đang hoành hành. Người lập một tu viện ở Bơrivơ La Gaiác. Thánh nhân là người đầu tiên trong dòng dạy thần học cho anh em. Người qua đời tại Pađôva sau khi giảng tĩnh tâm Mùa Chay tại đó (năm 1231).

Trung thành tuân giữ giáo huấn của Đức Kitô, bởi vì, Chúa luôn trung thành với lời Người đã hứa, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, sách Giôsuê cho thấy: Chính Thiên Chúa dẫn đầu Dân của Người, và Hòm Bia Giao Ước là dấu chỉ Người hiện diện. Đức Giêsu đã hứa ở với ta cho đến ngày tận thế! Nhờ đức tin, tường thành Giêrikhô đã sụp đổ, sau khi dân Ítraen đi vòng quanh trong bảy ngày. Lạy Đức Chúa, Ngài là Thiên Chúa của con, con suy tôn Ngài, con xưng tụng danh Ngài. Ngài làm cho đô thị hóa ra đống đá, và chẳng ai xây lại bao giờ.

Trung thành tuân giữ giáo huấn của Đức Kitô, bằng những việc làm cụ thể, chứ không phải bằng những lời nói suông, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Antôn Pađôva nói: Ai đầy Thánh Thần thì nói được nhiều thứ tiếng. Nhiều thứ tiếng ở đây có ý hiểu là những lời chứng về Đức Kitô như khiêm nhường, nghèo khó, kiên nhẫn và tuân phục. Chúng ta nói những thứ tiếng đó, khi tỏ cho người khác thấy nơi chúng ta các nhân đức nói trên. Lời nói sẽ hùng hồn khi có việc làm minh chứng. Hãy im đi để cho việc làm lên tiếng.

Trung thành tuân giữ giáo huấn của Đức Kitô, Người sẽ không bỏ mặc chúng ta bao giờ, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, sách các Vua quyển I tường thuật lại việc ông Êlia cầu xin, và Chúa ban mưa xuống: Lập tức trời kéo mây đen nghịt và nổi gió, rồi trút mưa lớn. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 64, vịnh gia cũng cùng chúng tâm tình khi nói: Lạy Thiên Chúa, ca tụng Ngài ở Xion, thật là chính đáng. Thăm trái đất, Ngài tuôn mưa móc, cho ngập tràn phú túc giàu sang, suối trời trữ nước mênh mang, dọn đất sẵn sàng đón lúa trổ bông.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Chúa nói: Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. Thiên Chúa là tình yêu, ai nói mình biết Thiên Chúa, thì phải biết yêu; ai không biết yêu, thì không biết Thiên Chúa. Tình yêu luôn đi bước trước, luôn có trực giác bén nhạy để nhận ra có điều bất thường trong tương quan với những người xung quanh, và mau chóng làm hòa, hóa giải những hiểu lầm, gút mắc. Thánh Antôn là nhà giảng thuyết tài ba. Quy luật cho nhà giảng thuyết là phải thực hành điều mình rao giảng. Ước gì ta biết trung thành tuân giữ giáo huấn của Đức Kitô, để đời sống ta trở thành lời rao giảng hùng hồn, sống động. Ước gì được như thế!


PowerPoint-t7-t10-TN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây