TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

Chúa Nhật Phục Sinh -Năm A

"Người phải sống lại từ cõi chết". (Ga 20, 1-9)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

Hôn Chân Chúa

Thứ năm - 02/04/2026 21:46 | Tác giả bài viết: GB. Nguyễn Thái Hùng |   41
Nụ hôn của Giuđa cũng có thể ở trong mỗi người khi chúng ta nói yêu Chúa nhưng sống ngược lại, khi chúng ta giữ hình thức nhưng thiếu lòng thành. Khi đó chúng ta đang “hôn Chúa kiểu Giuđa”.
Hôn Chân Chúa
Hôn Chân Chúa

Mỗi lần Tuần Thánh đến, tôi nhớ đến những đêm dài chực chờ để được ‘hôn chân Chúa’.


Sau những nghi thức phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh kết thúc, quê tôi thường có rước tượng Chúa chịu nạn và mai táng Chúa trong mộ. Tượng Chúa to như người thật và được đặt trong quan tài bằng kính, để mọi người có thể thấy rõ các chi tiết hằn lên thân xác đau thương của Ngài. Và đôi chân thò ra để mọi người hôn kính. Điều đặc biệt hấp dẫn bọn trẻ con chúng tôi là chung quanh đôi bàn chân của Chúa có đầy cốm hoặc bỏng ngô. Mỗi lúc đến hôn chân Chúa, bọn tôi chẳng để ý gì đến những đau thương Chúa đã chịu mà chỉ nhớ mỗi lần hôn là hai tay bóc đầy những bỏng ngô và cốm ngọt. Lần này đến lần khác… cho đến khi miệng không còn thích thú nữa.

Ôi tuổi nhỏ ngây thơ và khờ dại. Ngày ấy đã xa, xa quá rồi…


Tôn Kính Thánh Giá

Việc hôn chân Chúa, trong phụng vụ chính thức, nghi thức này được gọi là Tôn kính Thánh Giá (adoratio Crucis), bởi vì đối tượng tôn kính không phải là “bàn chân tượng Chúa” nhưng là Thánh Giá, dấu chỉ của hy tế cứu độ của Chúa Giêsu Kitô.

Tuy nhiên, trong thực hành đạo đức bình dân, nhất là khi có tượng chịu nạn, giáo dân quen diễn tả bằng hôn chân Chúa.

Khi hôn hoặc chạm vào Thánh Giá, người tín hữu bày tỏ lòng biết ơn vì Chúa đã chịu chết vì mình và đón nhận mầu nhiệm thập giá như nguồn ơn cứu độ. Như thế, chúng ta không phải tôn kính vật chất, mà là Đấng đã chịu đóng đinh.

Cử chỉ này diễn tả sự hiệp thông của chúng ta với cuộc thương khó của Chúa và sẵn sàng “vác thập giá mình” trong đời sống, như Chúa mời gọi chúng ta: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo”(Mt 16, 24).


Lịch Sử Của Nghi Thức

Vào thế kỷ thứ IV, sau khi Constantinô Đại đế cho tự do tôn giáo (313), Thánh Giá thật được tôn kính tại nơi Chúa chịu đóng đinh. Điều này được một người nữ hành hương Egeria (năm 380) ghi lại: Các tín hữu tiến lên, cúi mình và hôn kính Thánh Giá.

Nghi thức này đưa vào phụng vụ Rôma thế kỷ VII (600s). Dưới triều đại các Đức Giáo Hoàng thời đó, như Grêgôriô Cả, tiếp nhận nhiều yếu tố từ Đất Thánh, trong đó có nghi thức tôn kính Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh.

Việc tôn kính Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh được phát triển và lan rộng trong thế kỷ VIII–IX và được chuẩn hóa trở thành một phần chính thức của Thứ Sáu Tuần Thánh.


Nụ Hôn Tình Yêu



Khi hôn chân Chúa, tôi nhớ đến người phụ nữ trong nhà ông Simôn.

“Có người thuộc nhóm Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su dùng bữa với mình. Đức Giê-su đến nhà người Pha-ri-sêu ấy và vào bàn ăn. Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pha-ri-sêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.

Thấy vậy, ông Pha-ri-sêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!”  Đức Giê-su lên tiếng bảo ông: “Này ông Si-môn, tôi có điều muốn nói với ông!” Ông ấy thưa: “Dạ, xin Thầy cứ nói.” Đức Giê-su nói: “Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?” Ông Si-môn đáp: “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn.” Đức Giê-su bảo: “Ông xét đúng lắm.”

Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Si-môn: “Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều (Lc 7, 36-47).

Nụ hôn của người phụ nữ tại nhà ông Simôn người Pharisêu là một trong những cử chỉ đẹp và sâu sắc nhất trong Tin Mừng. Chúng ta biết, trong văn hóa Do Thái, hôn má là cách chào hỏi bình thường. Nhưng thánh Luca lại kể, chị hôn chân Chúa Giêsu và hôn liên tục. Điều này cho thấy đây không phải phép lịch sự mà là một hành vi phi thường.

Chị khóc, lấy nước mắt rửa chân và hôn chân Chúa Giêsu. Đây là ngôn ngữ của một người ý thức tội lỗi và đang tìm kiếm ơn tha thứ. Vì vậy, nụ hôn trở thành một lời xin tha thứ không cần thốt ra bằng lời.

Chúa Giêsu nói: “Tội chị rất nhiều, nhưng đã được tha, vì chị đã yêu mến nhiều”, nghĩa là không phải chị được tha vì hôn, nhưng nụ hôn biểu lộ  tình yêu phát sinh từ ơn tha thứ.
Chị không dám nhìn lên, không dám chạm tay bình thường mà chỉ dám cúi xuống chân. Đây là tư thế khiêm hạ của người tội lỗi cũng là tư thế của người thờ phượng, như hai người lên đền thờ cầu nguyện (x. Lc 18, 9-14).

Trong Kinh Thánh, hôn cũng có thể là cử chỉ tôn kính thờ phượg Thiên Chúa, như sau này các tư tế hôn bàn thờ.

Khi hôn chân Chúa, tâm tình chị không chỉ là tình cảm mà là nhìn nhận Ngài là Đấng Thánh, trái ngược với sự lạnh lùng của chủ nhà.

Chúa Giêsu nói với Simôn người Pharisêu: “Ông đã không hôn tôi … Còn chị này thì không ngừng hôn chân tôi”. Điều này cho thấy ông Simôn làm đúng luật nhưng thiếu tình yêu. Còn người phụ nữ tội lỗi nhưng đầy tràn yêu mến.

Tóm lại, nụ hôn của chị không chỉ là một hành vi sám hối, mà còn là môt hành vi yêu mến, khiêm hạ và thờ phượng. Cho nên nụ hôn của chị không chỉ chạm vào chân Chúa, mà chạm đến trái tim của Thiên Chúa.

Nụ Hôn Phản Bội
Khi hôn chân Chúa, tôi cũng nhớ đến Giuđa Ítcariốt, một môn đệ thân tín của Chúa Giêsu.

 
“Người còn đang nói, thì Giu-đa, một người trong nhóm Mười Hai, đã đến. Cùng đi với hắn, có cả một đám người đông đảo mang gươm giáo gậy gộc. Họ được các thượng tế và kỳ mục trong dân sai đến. Kẻ nộp Người đã cho họ một dấu hiệu, hắn dặn rằng: “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy!” Ngay lúc đó, Giu-đa tiến lại gần Đức Giê-su và nói: “Ráp-bi, xin chào Thầy!”, rồi hôn Người.”
(Mt 26, 47-49). “Đức Giê-su bảo hắn: “Giu-đa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?” (Lc 22, 48).


Giuđa Ítcariốt đã dùng nụ hôn để làm dấu chỉ cho lính bắt Chúa.

Trong văn hóa Do Thái, môn đệ có thể hôn Thầy để tỏ lòng kính trọng. Vì thế, khi Giuđa đến và hôn Chúa Giêsu không ai thấy lạ, vì đó là dấu hiệu quen thuộc. Chính vì “bình thường” nên nó trở thành dấu hiệu phản bội hoàn hảo.

Xét về bản chất, đây là sự đảo ngược của tình yêu. Nụ hôn vốn là dấu chỉ tình yêu và sự gần gũi, nhưng Giuđa dùng nó để chỉ điểm và trao nộp. Đây là điều làm nó trở nên khủng khiếp vì lấy cái đẹp để che giấu cái xấu.

Giuđa là người đã sống gần Chúa, nên nụ hôn này nói lên sự phản bội của một trái tim đã từng yêu.

Chúa Giêsu đau xót nhìn Giuđa và nói “Giuđa, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?” (Lc 22,48). Đây không phải lời kết án nặng nề, mà là một câu hỏi đau lòng, một lời đánh thức lương tâm.

Nụ hôn của Giuđa cũng có thể ở trong mỗi người khi chúng ta nói yêu Chúa nhưng sống ngược lại, khi chúng ta giữ hình thức nhưng thiếu lòng thành. Khi đó chúng ta đang “hôn Chúa kiểu Giuđa”.

Khi lên ‘hôn chân Chúa’ tôi đã ‘hôn’ thế nào?

Nụ hôn nào dành cho Người/người?

Nụ hôn nào dành cho tôi?
Gb. Nguyễn Thái Hùng
Thứ Sáu Tuần Thánh  2026


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây